Những vấn đề lý luận về phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp khi rơi vào tình trạng nguy cơ phá sản

  • www.doanhtri.net
  • 18-02-2023
  • 422 lượt xem

Viện Khoa Học Pháp Lý & Kinh Doanh Quốc tế IBLA xin giới thiệu bài viết của LG-LS Nguyễn Hữu Đức- GĐ Cty TNHH Hữu Đức và Cộng Sự; LG Hội viên Chi Hội LG Viện IBLA trình bày vấn đề lý luận rất chuyên sâu liên quan Luật Phá Sản năm 2014 và có những Tư vấn Pháp luật liên quan, cũng như đã đưa ra các cách thức cùng tình huống đặc thù để có thể khắc phục, tổ chức lại Doanh nghiệp, trước khi chấm dứt doanh nghiệp, giải thể và Tư vấn về Phá sản doanh nghiệp. 

Xin mời Quý độc giả và Quý Quý Anh Chị Luật gia, Luật sư Viện IBLA.cùng tham khảo bài viết dưới đây:

Hình ảnh LG-LS Nguyễn Hữu Đức tại Hội nghị Quý IV/2022 Viện IBLA

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỤC HỒI KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP KHI RƠI VÀO TÌNH TRẠNG NGUY CƠ PHÁ SẢN

1.1. Khái niệm về phá sản và pháp Luật Phá sản  doanh nghiệp.

1.1.1. Khái niệm về phá sản.

Khi nói đến phá sản doanh nghiệp, ở Châu Âu cổ đại người ta thường dùng từ  “Bankrutpcy” hoặc “Banqueroute”. Hai danh từ này bắt nguồn từ chữ “Banca Rotta” của La Mã - có nghĩa là “chiếc ghế bị gẫy”.

 Từ thời La Mã cổ đại, các thương gia của một thành phố họp nhau lại gọi là đại hội thương gia và trong quan hệ giao lưu thương mại giữa các thương gia với nhau, người nào không trả được nợ thường bị bắt làm nô lệ và mất luôn quyền tham gia đại hội thương gia và đồng thời chiếc ghế của người đó cũng bị đem ra khỏi hội trường, nhiều người mắc nợ  không trả được nợ thì bỏ trốn, gây mất ổn định trật tự xã hội.

Để giải quyết tình trạng này, Nhà nước La Mã phải đứng ra cưỡng chế tài sản của người mắc nợ để trả cho chủ nợ, song cách làm này cũng chỉ thích hợp đối với trường hợp người mắc nợ chỉ mắc nợ một người. Trong trường hợp cùng một lúc người mắc nợ phải trả cho nhiều chủ nợ thì rất dễ xảy ra tranh chấp, nhất là khi người mắc nợ không còn đủ tài sản để trả nợ, đối với trường hợp này Toà án địa phương nơi cư trú của người mắc nợ thường được yêu cầu đứng ra quản lý số tài sản của người mắc nợ, rồi phân chia tài sản này cho các chủ nợ tuỳ theo vốn và lãi của mỗi chủ nợ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chế định này được hoàn chỉnh và đã được nâng lên thành Luật Phá sản của Nhà nước La Mã cổ đại [7]. Ở thời kỳ này, thuật ngữ phá sản đã được hình thành, bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng La tinh có nghĩa là sự khánh tận - tức là mất khả năng thanh toán.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “phá sản” được biết đến từ thời kỳ Pháp thuộc do người Pháp mang sang Việt Nam cùng với quá trình thực dân hóa. Theo cách nói thông thường, phá sản là tình trạng của một người bị vỡ nợ không còn bất cứ tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn.

Theo Từ điển tiếng Việt :

- Phá sản: là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại.

- Vỡ nợ: là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ7.

Dưới góc độ pháp lý, phá sản là hiện tượng người mắc nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Toà án) tuyên bố phá sản và phân chia tài sản còn lại của người mắc nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật quy định. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ này dường như không được biết đến. Tại Việt Nam Pháp Luật Phá sản  và thuật ngữ phá sản chỉ thực sự được sử dụng trở lại kể từ khi có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường. Theo đó, hiện tượng phá sản dưới tác động của cạnh tranh đã trở thành hiện tượng bình thường và tất yếu trong kinh doanh.

Phá sản là tình trạng một DN, HTX do làm ăn thua lỗ dẫn đến việc hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và bị Toà án, theo thủ tục luật định, ra quyết định bắt buộc DN, HTX thanh lý tài sản để trả nợ cho các chủ nợ. Trong pháp luật của nhiều nước, thuật ngữ “phá sản” được sử dụng với nghĩa hẹp để chỉ một số trường hợp cụ thể, khi người mắc nợ thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự gây thiệt hại cho các chủ nợ. Pháp luật của các nước này thường sử dụng thuật ngữ “insolvency” (không có khả năng trả nợ hay khánh tận) để thay thế cho thuật ngữ “bankruptcy” (phá sản). Ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, chế định “vỡ nợ” hay “phá sản” luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về kinh doanh.

Pháp luật của các nước quy định về đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản rất khác nhau. Ở một số nước thủ tục tuyên bố phá sản có thể được áp dụng đối với tất cả những người mắc nợ mà không phân biệt cá nhân hay pháp nhân và cũng không phân biệt thương nhân hay không là thương nhân, không phân biệt nợ dân sự hay là nợ thương mại (chẳng hạn Hoa Kỳ, Nhật Bản…). Một số nước lại chỉ xem thương nhân với các khoản nợ thương mại mới là đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản, trường hợp ở Việt Nam. Pháp Luật Phá sản  của Việt Nam chỉ điều chỉnh đề cập đến phá sản DN, HTX được thành lập trên lãnh thổ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thuộc, mọi thành phần kinh tế, cụ thể như sau :

- Công ty nhà nước .

- Công ty TNHH một thành viên

- Công ty TNHH hai thành viên trở lên .

- Công ty cổ phần .

- Công ty hợp danh.

- Doanh nghiệp tư nhân.

- Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội.

- Hợp tác xã và Liên Hiệp hợp tác xã .

- Doanh nghiệp liên doanh.

- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài .

- Các loại hình DN, HTX khác theo quy định pháp luật Việt Nam.         

Đối với chủ nợ, DN, HTX bị coi là mất khả năng thanh toán khi:

- DN, HTX mắc nợ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

- Có khoản nợ quá hạn 03 tháng (khoản 1 Điều 4 LPS 2014),

- TAND ra quyết định  tuyên bố phá sản.

          Như vậy, chủ nợ chỉ cần chứng minh được là mình có khoản nợ đến hạn, DN, HTX không có khả năng thanh toán và DN, HTX đã trễ 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán, chủ nợ không cần phải chứng minh lý do DN, HTX mắc nợ không thanh toán được. Điều đó có nghĩa là DN, HTX phải tự chứng minh bản thân mình có mất khả năng thanh toán hay không.

Thuật ngữ “phá sản” tuy được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ hàng ngày và trong khoa học pháp lý song cho đến nay vẫn chưa được chính thức giải thích trong các văn bản pháp luật về phá sản ở nước ta. Hiện nay, theo nội dung Luật Phá sản 2014 tại khoản 2 Điều 4 thì: “phá sản là tình trạng của DN, HTX mất khả năng thanh toán và bị TAND ra quyết định tuyên bố phá sản” như vậy để tuyên bố một DN, HTX bị phá sản phải hội đủ ba yếu tố:

- Mất khả năng thanh toán: DN, HTX không thể thanh toán đối với các khoản nợ đã qúa hạn 03 tháng;

- Văn bản pháp lý: Có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ nợ hay  chính DN, HTX mất khả năng thanh toán;

- Tố tụng tư pháp: Có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân.

Cũng xuất phát từ những dấu hiệu xác định DN, HTX bị mất khả năng thanh toán, trong khoa học pháp lý, trong luật pháp các nước còn đưa ra khái niệm mất khả năng thanh toán tạm thời ( mất khả năng thanh toán tương đối ) và mất khả năng thanh toán vĩnh viễn (mất khả năng thanh toán tuyệt đối ).

 - Mất khả năng thanh toán tạm thời: là tình trạng tổng giá trị toàn bộ tài sản có của DN, HTX mắc nợ lớn hơn tổng số nợ phải trả của DN, HTX mắc nợ nhưng tại một thời điểm xác định DN, HTX mắc nợ không có ngay các khoản tiền để trả cho các chủ nợ khi họ yêu cầu.

- Mất khả năng thanh toán vĩnh viễn: là tổng giá trị toàn bộ tài sản có của DN, HTX mắc nợ không đủ để thanh toán các khoản nợ của DN, HTX mắc nợ.

Sự phân biệt này giúp việc quyết định phục hồi hoạt động kinh doanh hay thanh lý tài sản của doanh nghiệp được nhanh chóng. Tuy nhiên, dù có phân biệt như thế nào đi chăng nữa thì tình trạng thực tế của DN, HTX mắc nợ trước khi mở thủ tục phá sản chỉ có chính DN, HTX đó biết. Do vậy, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ phát sinh khi có khoản nợ đến hạn đã có yêu cầu thanh toán nhưng DN, HTX mắc nợ không thanh toán được. DN, HTX mắc nợ có bị Tòa án tuyên bố phá sản hay không thì phải tự chứng minh và tự cứu mình bằng các giải pháp khác nhau trong đó giải pháp phục hồi sản xuất, hoạt động kinh doanh có sự trợ giúp từ các chủ nợ và các chính sách khả thi của nhà nước sẽ là đòn bẩy để phục hồi DN, HTX mất khả năng thanh toán.

1.1.2. Vai trò của pháp Luật Phá sản  trong nền kinh tế thị trường.

Pháp Luật Phá sản  có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Vai trò đó thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

1.1.2.1. Pháp Luật Phá sản  là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ.

Trong kinh doanh, việc nợ nần lẫn nhau là hiện tượng bình thường, ít DN, HTX nào có thể tránh khỏi. Khi có nợ đến hạn không trả được thì chủ nợ đương nhiên có quyền đòi nợ thông qua nhiều hình thức và các biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp khởi kiện ra Toà án. Tuy nhiên, việc đòi nợ bằng con đường kiện tụng ra Toà dân sự, Toà kinh tế nhiều khi không thể giải quyết được một cách thoả đáng quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh khi mà con nợ đã mất khả năng thanh toán. Vì vậy, bên cạnh tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế với tư cách là các thủ tục đòi nợ thông thường, thông qua giải quyết tranh chấp pháp luật phải thiết kế thêm một cơ chế đòi nợ đặc biệt nữa để các chủ nợ, khi cần thì có thể sử dụng để đòi nợ, đó là thủ tục phá sản. Đây là thủ tục đòi nợ tổng thể mà có thể không có tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ hay số nợ phải trả đối với nhiều chủ nợ khác nhau đối với DN, HTX mất khả năng thanh toán.

Tính ưu việt của cơ chế đòi nợ thông qua thủ tục phá sản là ở chỗ, việc đòi nợ được bảo đảm bằng việc Toà án có thể tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của con nợ (quan hệ nợ nần) và thông qua đó mà bán toàn bộ tài sản của nó để trả cho các chủ nợ. Mặc dù ngày nay, tố tụng phá sản còn phải thực hiện thêm một số mục tiêu nữa, trong đó có mục tiêu giúp DN, HTX mắc nợ phục hồi (tức là bảo vệ cả lợi ích của con nợ ) nhưng về cơ bản, tố tụng phá sản từ khi ra đời đến nay vẫn là loại tố tụng tư pháp được đặt ra nhằm trước hết và chủ yếu là để bảo vệ lợi ích của các chủ nợ. Việc ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ đã làm cho thủ tục phá sản trở thành một công cụ pháp lý có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy hoạt động đầu tư của các nhà kinh doanh. Từ khi có Luật Phá Sản, các nhà kinh doanh sẽ yên tâm hơn vì các món nợ của họ đã có một cơ chế tốt hơn để được bảo vệ. Pháp Luật Phá sản Việt Nam đã thể hiện rất rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Điều này được thể hiện qua hàng loạt các quy định pháp luật liên quan đến quyền năng của chủ nợ như:

- Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục giải quyết phá sản.

- Quyền khiếu nại danh sách chủ nợ.

- Quyền có đại diện trong thiết chế quản lý tài sản và thanh toán tài sản.

- Quyền đề xuất phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ.

- Quyền được khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản, v...v...

1.1.2.2. Pháp Luật Phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ.

Pháp Luật Phá sản  tạo cơ hội để con nợ rút khỏi thương trường một cách trật tự, giúp DN, HTX mất khả năng thanh toán có thể quay lại thị trường với cơ chế phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi mới xuất hiện, pháp Luật Phá sản  không đặt ra vấn đề bảo vệ con nợ. Lúc đó, người ta cho rằng, phá sản là một tội phạm và người gây ra sự phá sản là một phạm nhân, do đó, họ không những không được bảo vệ mà còn bị trừng phạt bằng nhiều hình thức, kể cả việc tử hình.

Ngày nay, quan niệm về việc kinh doanh đã được thay đổi, do đó, cách ứng xử của Nhà nước và pháp luật đối với con nợ mất khả năng thanh toán cũng đã được thiết kế theo hướng tích cực, có lợi cho con nợ và nhân văn hơn. Hoạt động kinh doanh là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Do sự biến động khó lường của thị trường và các yếu tố khách quan khác nên tình trạng kinh doanh thua lỗ, không trả được nợ đến hạn đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với bất kỳ nhà kinh doanh nào. Mặt khác, một DN, HTX bị phá sản thì có thể kéo theo nhiều hậu quả xấu đối với xã hội, mà trước hết là đối với người lao động và các chủ nợ. Chính vì vậy mà ngày nay, theo quan điểm hiện nay của các nước có nên kinh tế phát triển khi các DN, HTX bị mất khả năng thanh toán vấn đề đầu tiên mà Nhà nước quan tâm giải quyết không phải là việc tuyên bố doanh nghiệp phá sản ngay và phân chia tài sản của nó cho các chủ nợ mà là việc phải tìm mọi cách để giúp đỡ DN, HTX thoát khỏi tình trạng khó khăn này. Điều đó giải thích tại sao, pháp luật của đa số các nước có nền kinh tế phát triển đều quy định nhiều hình thức phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh  khác nhau để DN, HTX mất khả năng thanh toánlựa chọn và áp dụng. Ngoài ra, pháp Luật Phá sản  bảo vệ con nợ thông qua việc thiết lập một trật tự trả nợ mà theo đó, con nợ sẽ không bị xiết nợ theo kiểu "luật rừng".

Pháp Luật Phá sản Việt Nam cũng đã được xây dựng theo khuynh hướng nhân văn này. Cụ thể là, từ Luật Phá Sản 2004 đếnLuật Phá Sản 2014 các đạo luật về Phá sản đã không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cả DN, HTX mắc nợ và đặc biệt là đã không coi phá sản là một tội phạm như quan niệm cũ. Điều này có thể thấy qua việc pháp luật quy định hàng loạt những quyền cho DN, HTX mắc nợ trong quá trình giải quyết phá sản. Chẳng hạn, kể từ thời điểm Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản DN, HTX tất cả quyền đòi nợ đều được đình chỉ và giải quyết theo một thủ tục chung duy nhất do Toà án tiến hành (Điều 8 Luật Phá Sản 2014). Pháp Luật Phá sản  của nhiều nước đã tạo điều kiện tối đa cho DN, HTX mắc nợ khắc phục khó khăn về tài chính, thoát khỏi tình trạng phá sản để trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường mà không quy định bắt buộc Toà án phải tuyên bố phá sản ngay khi có đơn yêu cầu.

Ngay sau khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, DN, HTX mắc nợ cũng có quyền xây dựng phương án hoà giải và giải pháp tổ chức lại sản xuất, kinh doanh trình HNCN xem xét thông qua phương án phục hồi và các chủ nợ có quyền cùng các chủ thể tiến hành tố tụng tham gia góp ý bổ sung để hoàn thiện phương án cho thấy cả chủ nợ và DN, HTX mất khả năng thanh toán nếu muốn đạt được hiệu quả trả nợ vả thu hồi nợ thì phải có sự hợp tác đồng thuận hữu ái.

Toà án chỉ ra quyết định mở thủ tục thanh lý khi HNCN không thông qua phương án tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, hay trong trường hợp DN, HTX không thực hiện hoặc thực hiện không thành công phương án tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh đã được HNCN thông qua. Khi có quyết định mở thủ tục thanh lý, tài sản còn lại của DN, HTX sẽ được thanh toán cho các chủ nợ theo thứ tự nhất định (Điều 54 LPS 2014) ; sau khi thanh toán, mọi khoản nợ của DN, HTX, cho dù chưa được thanh toán đầy đủ cũng được coi là đã thanh toán và các chủ nợ không có quyền đòi nợ nữa, trừ một vài ngoại lệ được quy định trong LPS của từng quốc gia khác nhau.

1.1.2.3. Pháp Luật Phá sản  góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của người lao động.

Phá sản không chỉ gây ra hậu quả xấu cho các chủ nợ, con nợ mà còn cho cả người lao động. Điều này trước hết thể hiện ở chỗ, chính vì phải phá sản mà người lao động mất việc làm, lâm vào tình cảnh thất nghiệp. Do vậy, muốn bảo vệ người lao động, trước hết là phải làm sao để DN, HTX không bị phá sản để họ có cơ hội tiếp tục làm việc. Cơ chế phục hồi doanh nghiệp được pháp luật đề ra chính là để thực hiện chủ trương này vì trên thực tế, cứu được DN, HTX thoát khỏi tình trạng phá sản cũng chính là cứu được người lao động thoát khỏi tình trạng thất nghiệp góp phần ổn định xã hội. Nhưng mặt khác, khi người lao động làm việc mà không được trả đủ lương trong một thời gian dài thì Nhà nước cũng cần phải tạo ra một phương thức nào đó để người lao động có thể đòi được số tiền lương mà DN, HTX nợ người lao động. Để thực hiện được mục tiêu này, pháp Luật Phá sản  phải quy định cho họ một số quyền như quyền được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (khoản 2 Điều 5 LPS 2014), quyền được tham gia quá trình giải quyết vụ việc phá sản với tư cách là chủ nợ, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương (điểm b khoản 1 Điều 51 Luật Phá Sản 2014) và các khoản tiền hợp pháp khác mà họ được hưởng trước các khoản nợ thông thường của DN, HTX mất khả năng thanh toán.

1.1.2.4. Pháp Luật Phá sản  góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Theo lẽ thường, khi mà con nợ có quá nhiều chủ nợ nhưng lại có quá ít tài sản để thanh toán nợ thì việc các chủ nợ tranh giành nhau tài sản của con nợ là điều rất dễ xảy ra. Nếu cứ để các chủ nợ “mạnh ai nấy làm”, tuỳ nghi “xiết nợ”, tự do tước đoạt tài sản của con nợ một cách vô tổ chức, không công bằng thì trật tự, an toàn xã hội sẽ không được bảo đảm. Vì vậy, Nhà nước nào cũng cần phải có biện pháp để can thiệp vào việc đòi nợ này nhằm tránh được các hệ quả tiêu cực như vừa nêu trên. Thủ tục phá sản chính là một công cụ pháp lý có khả năng giúp Nhà nước đưa ra được nhiều cơ chế để thực hiện được việc thanh toán nợ một cách công bằng giữa các chủ nợ. Căn cứ vào pháp Luật Phá sản , Toà án sẽ thay mặt Nhà nước đứng ra giải quyết một cách  khách quan mối xung đột về lợi ích giữa các chủ nợ và giữa chủ nợ với con nợ và điều đó sẽ góp phần đảm bảo trật tự, an toàn cho xã hội.

1.1.2.5. Pháp Luật Phá sản  góp phần làm lành mạnh hoá nền  kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn.

Phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn có ý nghĩa tiêu cực. Xét trên phạm vi toàn cục của nền kinh tế thì việc phá sản và giải quyết phá sản là có ý nghĩa tích cực. Điều này được thể hiện ở những điểm như sau:

- Phá sản và pháp Luật Phá sản  là công cụ răn đe các nhà kinh doanh, buộc họ phải năng động, sáng tạo nhưng cũng phải thận trọng trong khi hoạt động. Một thái độ hành nghề, trong đó có sự kết hợp giữa tính năng động, sáng tạo và tính cẩn trọng là hết sức cần thiết vì nó giúp các nhà kinh doanh đưa ra được những quyết định hợp lý - tiền đề cho sự làm ăn có hiệu quả của từng doanh nghiệp. Sự làm ăn có hiệu quả của các doanh nghiệp riêng lẻ đương nhiên sẽ kéo theo sự làm ăn có hiệu quả của cả nền kinh tế nói chung.

- Pháp Luật Phá sản  không chỉ là công cụ răn đe, buộc các DN, HTX phải luôn tự hoàn thiện mình để tồn tại và phát triển mà còn là cơ sở pháp lý để xoá bỏ các DN, HTX kinh doanh kém hiệu quả, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư. Thông qua thủ tục phá sản, những DN, HTX thua lỗ triền miên, nợ nần chồng chất như những “con bệnh” trong nền kinh tế đều phải được xử lý, đưa ra khỏi thương trường. Như vậy, thủ tục phá sản đã góp phần tạo ra môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh - một yếu tố không thể thiếu được cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

- Phá sản cũng là cơ hội để DN, HTX tái cơ cấu triệt để cùng với sự đồng thuận của các chủ nợ và chính sách khả thi của nhà nước để tạo ra những chủ thể kinh doanh mới hiệu quả hơn mà không gây xáo trộn lớn trong xã hội và thị trường, như TS Lê Đăng Doanh đã phát biểu “trong kinh tế học người ta quan niệm phá sản là sự sáng tạo, nghĩa là khi một doanh nghiệp phá sản thì chỉ có ông chủ ra đi, còn máy móc, người lao động, nhà xưởng vẫn còn. Khi người chủ mới đến sẽ đầu tư vào và từ đống tro tàn lại có con Phượng Hoàng bay lên."

1.2. Mục đích ý nghĩa của việc phục hồi kinh doanh theo pháp Luật Phá sản.

Xúc tiến phục hồi hoạt động của con nợ mất khả năng thanh toán là mục tiêu và là xu thế chung của Luật Phá Sản hiện đại trên thế giới và Việt Nam đang tích cực hội nhập vào các nền kinh tế chung của thế giới nên tất yếu cũng phải tuân theo xu thế chung này. Cùng với sự phát triển về kinh tế, việc chuyển mục tiêu lập pháp của LPS từ bảo hộ đối với quyền lợi của chủ nợ sang vực dậy DN, HTX mất khả năng thanh toán tức “hướng vào con nợ” là một xu thế khách quan. Luật Phá Sản xưa kia với việc chỉ bảo vệ cho lợi ích của chủ nợ (với một thủ tục được áp dụng đó là thanh lý tài sản) dễ dẫn đến những tiêu cực nảy sinh cho cả chủ nợ, con nợ và xã hội, đặc biệt khi nền kinh tế phát triển nhất định thì quy định đơn cực này trở thành rào cản.

Với quan điểm cứu giúp con nợ là giải pháp hữu hiệu cho bảo vệ lợi ích của chủ nợ, bảo vệ lợi ích của xã hội Luật Phá Sản hiện đại chuyển sang mục tiêu mới là phục hồi DN, HTX mất khả năng thanh toán. Tất nhiên, dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh thì phá sản là một hiện tượng tất yếu. Tuyên bố phá sản con nợ là một việc không thể không diễn ra, nếu ví các doanh nghiệp như là một “bộ phận cơ thể” trong hệ thống các đơn vị kinh tế của nền kinh tế, thì việc loại bỏ “những bộ phận ốm yếu bệnh hoạn ra khỏi cơ thể” là một việc đương nhiên. Nhưng việc làm đó trước hết cần phải thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương thuốc “chữa trị”, nếu phương thuốc “chữa trị” không tác dụng mới tiến hành loại bỏ, hoặc nhiều trường hợp, việc xác định ngay từ đầu việc sử dụng các phương thuốc là không thể cứu vãn nổi (mất khả năng thanh tóan tuyệt đối).

Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hiện nay là một công cụ pháp lý hữu hiệu được nhiều nước áp dụng để giúp DN, HTX mất khả năng thanh toán có cơ hội “hồi sinh”. Xét về mục đích và ý nghĩa thì “hồi sinh”  DN, HTX mất khả năng thanh toán  được tiếp tục tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, tận dụng vốn và tài sản, bí quyết nghề nghiệp, bạn hàng thị trường, thương hiệu vốn đã thành công từ một lĩnh vực nhất định chuyên biệt nào đó cùng các giá trị truyền thống của doanh nghiệp mà DN, HTX đã dầy công xây dựng, tránh những tiêu cực bất ổn cho xã hội do phá sản gây ra như thất nghiệp, thị trường  rối loạn, dây chuyền sản xuất trở thành phế liệu lãng phí.

1.3. Vai trò chủ nợ trong quá trình tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Căn cứ trên tình trạng tài sản bảo đảm khi vay, Luật Phá Sản 2014 chia ra làm ba loại chủ nợ:

a) Chủ nợ có tài sản bảo đảm:là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu DN, HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của DN, HTX hay của người thứ ba.

b) Chủ nợ có tài sản bảo đảm một phần: là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu DN, HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của DN, HTX hay của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó.

c) Chủ nợ không có tài sản bảo đảm: là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu DN, HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của DN, HTX hay của người thứ ba.

Trong tố tụng pháp Luật Phá sản Việt Nam chia ra làm hai nhóm chủ thể có quan hệ trong thủ tục phá sản:

- Chủ thể tiến hành thủ tục phá sản: là Chánh án Tòa án nhân dân; Thẩm phán; Viện trưởng VKSND; Kiểm sát viên; QTV; DN QL, TLTS; thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; Chấp hành viên.

- Chủ thể tham gia thủ tục phá sản: là chủ nợ; người lao động; doanh nghiệp mất khả năng thanh toán; cổ đông;  thành viên Hợp tác xã; hoặc hợp tác xã thành viên của Liên hiệp hợp tác xã; người mắc nợ DN, HTX mất khả năng thanh toán và những người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá  trình giải quyết thủ tục phá sản.

Tuy tham gia thủ tục phá sản có những chủ thể khác nhau nhưng để quyết định việc phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX mất khả năng thanh toán hoàn toàn dựa vào sự đồng thuận của HNCN thông qua sự hiện diện của chủ nợ  và đại diện tổng số nợ không có bảo đảm.

Khái niệm chủ nợ: theo cách hiểu phổ thông thì, chủ nợ là người cho vay nợ, trong quan hệ với người mắc nợ hay người có quyền đòi nợ. Trong hoạt động kinh doanh khái niệm này cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Theo pháp luật về phá sản, chủ nợ sẽ được hiểu rộng, nguyên nhân trở thành chủ nợ đa dạng hơn, và mối quan hệ giữa chủ nợ và DN, HTX mắc nợ cũng phong phú hơn, không đơn thuần chỉ là quan hệ giữa người cho vay và người vay. Tuy nhiên, kết cục cũng là một bên có khoản nợ nhưng không thanh toán được (mất khả năng thanh toán) cho bên được thanh toán. Chủ nợ không có  bảo đảm được xem  là chủ thể chính tham gia thảo luận và thực hiện quyền biểu quyết các vấn đề liên quan DN, HTX tại HNCN.

Thông qua một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của chủ nợ trong (Điều 5  Luật Phá Sản 2014) vai trò quyết định của chủ nợ trong quá trình chấp thuận phương án phục hồi DN, HTX mất khả năng thanh toán là quan trọng nhất, chủ nợ là người tham gia thủ tục phá sản, có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người lao động, đại diện công đoàn, đều là chủ thể có quyền yêu cầu DN, HTX thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đến hạn, gồm một số quyền cơ bản sau đây :

1.3.1. Quyền nộp đơn, quyền đòi nợ, quyền đề xuất.

Bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, trong đó vai trò của chủ nợ không có bảo đảm có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc tố tụng phá sản DN, HTX bởi lẽ các chủ thể này là người có quyền lợi bị thiệt hại nhất so với các chủ nợ khác. Để được hưởng quyền đòi nợ của mình các chủ nợ phải gởi giấy đòi nợ đến QTV, DN QL, TLTS trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 66 LPS 2014), với tư cách là người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì các chủ nợ có quyền đề xuất với TAND về tên QTV, DN QL, TLTS trước khi mở thủ tục phá sản (khoản 2 Điều 19 Luật Phá Sản 2014), tuy nhiên cần chú ý các QTV, DN QL, TLTS được đề xuất này phải không có lợi ích liên quan đến vụ việc phá sản; không là người thân thích của người tham gia thủ tục phá sản (khoản c, khoản đ  Điều 45 Luật Phá Sản 2014) và nếu việc đề xuất được Tòa án chấp thuận để chỉ định, thì việc chấp thuận  này sẽ thuận lợi trong việc giải quyết phá sản nhanh gọn, hiệu quả, tối đa hóa được giá trị tài sản của DN, HTX và tiết kiệm chi phí phá sản.

1.3.2. Quyền thương lượng sau khi đã nộp đơn.

Cho dù đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhưng trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày TAND nhận đơn mở thủ tục phá sản hợp lệ thì chủ nợ vẫn có quyền đề nghị bằng văn bản gửi TAND để các bên thương lượng rút đơn không tiếp tục yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX mất khả năng thanh toán. 

1.3.3. Quyền biểu quyết tại các HNCN, giám sát việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh.

Để DN, HTX mất khả năng thanh toán được chấp thuận phục hồi hoạt động sản xuất hay thanh lý tài sản để trả nợ cần phải có sự hiện diện, biểu quyết chấp thuận theo một tỉ lệ luật định của chủ nợ không có bảo đảm, khi phương án phục hồi được được trình tại HNCN và ở các lần hội nghị tiếp theo vẫn phải được sự đồng thuận của chủ nợ này, nếu phương án phục hồi đã được chấp thuận thực hiện lúc này chủ nợ tiếp tục thực hiện quyền giám sát hoạt động kinh doanh của DN, HTX..

1.3.4. Quyền đề nghị, kiến nghị xem xét lại và giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại Nghị quyết của HNCN.

Trong trường hợp không đồng ý với Nghị quyết của HNCN, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận Nghị quyết của HNCN, người có quyền và nghĩa vụ tham gia HNCN (Điều 77 và Điều 78 LPS 2014) có quyền gửi đơn đề nghị VKSND cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án TAND đang giải quyết phá sản xem xét lại Nghị quyết của HNCN.

1.3.5.  Hội Nghị Chủ Nợ.

LPS có quy định cơ chế chủ nợ tham gia giải quyết phá sản thông qua một thiết chế là HNCN, là nơi mà các chủ nợ có quyền tham gia hội họp để thảo luận, biểu quyết, đề xuất các vấn đề liên quan đến số nợ của mình đối với DN, HTX mắc nợ.

- Vai trò: HNCN có vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định sự sống còn của DN, HTX mất khả năng thanh toán. Tại Hội nghị các chủ nợ sẽ thể hiện ý chí và thiện chí của mình trong vấn đề có tạo điều kiện để phục hồi họat động kinh doanh cho DN, HTX mất khả năng thanh toán hay không (?)

- Địa vị pháp lý: HNCN là cơ quan quyền lực cao nhất của các chủ nợ, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ và của chính DN, HTX mất khả năng thanh toán.

1.3.5.1. Nguyên tắc chung khi tiến hành  HNCN.

- Tôn trọng thỏa thuận của người tham gia thủ tục phá sản nếu thỏa thuận đó không vi phạm vào điều cấm của pháp luật cũng như không trái đạo đức xã hội.

- Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của người tham gia thủ tục phá sản.

- Công khai trong việc tiến hành HNCN.

1.3.5.2. Triệu tập và gửi thông báo triệu tập cho HNCN.

- Luật Phá Sản 2014 quy định Tòa án tiến hành thủ tục phá sản có trách nhiệm chuẩn bị tổ chức HNCN. Tuy nhiên, để HNCN nhanh chóng được tổ chức, thì thời hạn để Thẩm phán triệu tập HNCN trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày việc kiểm kê tài sản kết thúc hoặc kể từ ngày kết thúc việc lập danh sách chủ nợ trong trường hợp việc kiểm kê tài sản kết thúc trước việc lập danh sách chủ nợ trừ trường hợp không phải tổ chức HNCN do Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn quy định tại Điều 105 và thủ tục phá sản đối với tổ chức Tín dụng tại Chương 8 củaLuật Phá Sản 2014.

-Thông báo triệu tập HNCN và tài liệu khác có liên quan phải được gửi cho người có quyền tham gia HNCN và người có nghĩa vụ tham gia HNCN chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc hội nghị, giấy triệu tập HNCN phải ghi rõ thời gian và địa điểm tổ chức HNCN, chương trình, nội dung HNCN.

1.3.5.3. Thành phần tham gia HNCN.

- Chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ. Nhằm khuyến khích tham gia HNCN  Luật Phá Sản 2014 cho phép chủ nợ có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham gia HNCN và người được ủy quyền có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ.

- Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền; trường hợp này đại diện cho người lao động , đại diện công đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ.

- Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho DN, HTX mất khả năng thanh toán: trong trường hợp người bảo lảnh đã trả nợ thay cho DN, HTX thì  người bảo lãnh trở thành chủ nợ không có bảo đảm.

- Người có nghĩa vụ  tham gia HNCN, gồm người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại Điều 5 Luật Phá Sản 2014, người đại diện theo pháp luật  của DN, HTX mất khả năng thanh toán có nghĩa vụ tham gia HNCN, trường hợp không tham gia được thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham gia HNCN và người thụ ủy có quyền và nghĩa vụ như người ủy quyền. Tuy nhiên, để ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của đại diện DN, HTX mất khả năng thanh toán nếu DN, HTX cố ý vắng mặt không có lý do chính đáng thì QTV, DN QL, TLTS có đề nghị TAND xử lý theo quy định pháp luật.

1.3.5.4. Nội dung HNCN và vai trò các bên tham gia HNCN.

HNCN thảo luận về các nội dung do QTV, DN QL, TLTS đã thông báo và thu thập các ý kiến của những người tham gia HNCN.

a) Thẩm phán phụ trách khai mạc và có vai trò là người chủ trì HNCN, tiến hành các hoạt động khai mạc HNCN, Thông báo với HNCN về những người tham gia HNCN và nội dung việc giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

b) Theo đề xuất của QTV, DN QL, TLTS thì HNCN  biểu quyết thông qua Thư ký Hội nghị để ghi biên bản HNCN.

c) Vai trò QTV, DN QL, TLTS có vai trò như thư ký của Thẩm phán tại HNCN, giúp Thẩm phán thực hiện các hoạt động tổ chức tại HNCN như:

- Báo cáo về sự có mặt, vắng mặt của người tham gia HNCN theo thông báo triệu tập của TAND, lý do vắng mặt, và kiểm tra căn cước của người tham gia HNCN.

- Thông báo cho HNCN về tình hình kinh doanh, thực trạng tài chánh của DN, HTX mất khả năng thanh toán, thông báo kết quả kiểm kê tài sản, danh sách chủ nợ và các nội dung khác nếu xét thấy cần thiết.

- Có quyền đề nghị Thẩm phán ra quyết định thay người đại diện hợp pháp của DN, HTX mất khả năng thanh toán.

d) Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của người có liên quan trình bày ý kiến của mình về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ trong việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản.

 đ) Người làm chứng trình bày ý kiến, người giám định, đại diện cơ quan thẩm định giá  trình bày kết luận giám định thẩm định trình bày kết luận giám định; kết quả định giá, người thực hiện biện pháp bổ trợ tư pháp khác giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn.

Trường hợp có người vắng mặt thì QTV, DN QL, TLTS cho công bố ý kiến bằng văn bản tài liệu, chứng cứ do người đó cung cấp.

e) Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của DN, HTX mất khả năng thanh toán có quyền:

- Trình bày ý kiến và thảo luận về nội dung do QTV , DN QL, TLTS đã thông báo cho HNCN.

- Đề xuất phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh.

- Đánh giá khả năng và thời hạn thu hồi nợ.

g) Những người tham gia HNCN có quyền đề nghị Thẩm phán ra quyết định  thay người  đại diện hợp pháp của DN, HTX mất khả năng thanh toán.

 h) Các chủ nợ có quyền thành lập Ban đại diện chủ nợ.

1.4. Vai trò quyết định của chủ nợ trong việc phục hồi sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Tại HNCN thông qua quyền và nghĩa vụ của mình, chủ nợ không có bảo đảm được quyền biểu quyết đối với các nội dung nghị quyết của HNCN, trong đó :

- Đề nghị đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán do DN, HTX này chưa đầy đủ yếu tố để tuyên bố phá sản theo quy định tại khoản 1 Điều 86 Luật Phá Sản 2014.

- Quyết định việc phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, HTX hay yêu cầu TAND tuyên bố phá sản đối với DN, HTX: khi các chủ nợ nhận thấy rằng các con  nợ chỉ mất khả năng thanh toán tạm thời hoặc mất khả năng thanh toán vĩnh viễn thì các chủ nợ sẽ đồng ý hoặc không đồng ý thông qua biện pháp phục hồi hoạt động hoạt động kinh doanh đồi với DN, HTX mất khả năng thanh toán này.

- Yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản đối với DN, HTX mất khả năng thanh toán.

1.5. Kinh nghiệm quốc tế về quy định phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp.

Cùng với sự phát triển  kinh tế ở các nước Phương Tây là sự tăng lên về số lượng và quy mô của các doanh nghiệp, đồng thời sự liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp thì mục tiêu của LPS “hướng vào chủ nợ” đã không còn phù hợp, việc áp dụng những quy định này sẽ gây ra những tác động tiêu cực to lớn đối với kinh tế, xã hội. Một doanh nghiệp lớn đổ vỡ sẽ kéo theo sự thất nghiệp, tệ nạn, nhiều khi còn dẫn đến phá sản dây chuyền là nguyên nhân của bất ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội. Bên cạnh đó, quá trình thụ lý và tiến hành các thủ tục để thanh lý thường gây ra những thất thoát, lãng phí rất lớn cho xã hội như nhà máy thiết bị trở thành phế liệu.

Luật Phá Sản lúc này chuyển sang một mục tiêu mới là làm cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được “hồi sinh”. Chủ nợ thì lấy được nợ, doanh nghiệp thì thoát khỏi tình trạng phá sản, trở lại hoạt động một cách bình thường. Mục tiêu này của LPS được nhiều nhà nghiên cứu gọi là “hướng vào con nợ” hay “bảo hộ đối với con nợ”, từ đó các quy định của Luật Phá Sản sẽ tập trung theo chiều hướng trên. Bên cạnh đó, thủ tục thanh lý là bộ phận cấu thành không thể thiếu của Luật Phá Sản, hoàn thiện trên cơ sở là trình tự pháp lý cuối cùng khi khi con nợ mất khả năng thanh toán không thể phục hồi thành công.

Hiện nay có hai hệ thống pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đối với lý luận về pháp luật của nhiều nước, đó là hệ thống pháp luật Anh – Mỹ  (common law) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (civil  law) tiêu biểu là Cộng Hòa Pháp. Dù có nhiều quan điểm, cách thức giải quyết khác nhau đối với hiện tượng phá sản, nhưng hai hệ thống pháp luật này có điểm chung xuất phát điểm là những quy định với mục tiêu “hướng vào chủ nợ”, quan điểm cũ thì phá sản đồng nghĩa với việc thanh lý tài sản con nợ để trả nợ, qua quá trình phát triển dần hướng vào mục tiêu “bảo hộ đối với con nợ” tạo điều kiện tối đa để con nợ trả được nợ hơn là phá sản nó. Qua sơ lược lịch sử hình thành, từ quan điểm truyền thống đến quan điểm hiện đại về Luật Phá Sản, chúng ta có thể thấy rõ được mục tiêu này.

1.5.1. Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common law )

Trong hệ thống pháp luật Anh- Mỹ, những khởi đầu cho quy định “hướngvào con nợ” là Luật Công ty đường sắt của Anh năm 1867 với các quy định về “người quản lý” trong thủ tục phá sản. Quá trình phát triển, các quy định nhằm hướng vào bảo vệ lợi ích con nợ dần được hoàn thiện hơn ở Luật Công ty 1929; Luật sửa đổi Luật công ty Anh năm 1949 quy định thêm “chỉnh lý và tổ chức lại”, và hiện nay đó là Luật mất khả năng thanh toán năm 1986 áp dụng thủ tục phục hồi đối với doanh nghiệp và cá nhân, xu hướng “ hướng vào con nợ ” đã dần thay cho những quy định mà trong nhiều thế kỷ con nợ bị bắt và bỏ tù đó là đạo luật về phá sản đầu tiên được ban hành bởi Vua Henry VIII năm 1542.

Luật mất khả năng thanh toán Anh năm 1986 có ảnh hướng rất lớn trong lập pháp của một số nước, như Australia (Luật cải cách Luật công ty 1992), Canada (Luật Phá Sản và mất khả năng thanh toán 1992), Ireland (Luật công ty sửa đổi 1990). Ở Mỹ, Luật Phá Sản đầu tiên được ban hành năm 1800 với các quy định “hướng vào chủ nợ”, nhiều trường hợp con nợ còn bị xem là tội phạm Năm 1841, Mỹ ban hành thêm Luật mất năng lực trả nợ, luật này cho phép con nợ có thể đề xuất việc phá sản lên tòa để được bảo hộ miễn trách do phá sản gây ra.

Năm 1874, Luật Phá Sản sửa đổi đã chuyển sang mục tiêu “hướng vào con nợ” với quy định thêm về thủ tục hòa giải. Năm 1898 thông qua Luật Phá Sản Liên bang, quy định về chế độ người quản lý tài sản nhằm giám sát quá trình tiến hành tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phá sản. Năm 1938 tiến hành sửa đổi, bổ sung chi tiết các nội dung về thủ tục phục hồi (được quy định ở chương 10 và chương 11). Năm 1978, Mỹ thông qua Luật Phá Sản sửa đổi với hai chương rất nổi tiếng là chương 7 (về thủ tục thanh toán) và chương 11 (thủ tục phục hồi), được nhiều học giả đánh giá là “cuộc cách mạng thứ hai” đối với Luật Phá Sản. Sau đó được sửa đổi, bổ sung qua các năm 1984, 1994, 1998, 2001, 2003 và 2005.

Hiện nay, khái niệm về phá sản của Mỹ và các quy định ở hai chương 7 và chương 11, đặc biệt ở chương 11 của Luật Phá Sản Mỹ được nhiều nước học tập kinh nghiệm khi xây dựng Luật Phá Sản của mình, ví dụ như các quy định trong Luật “tái tạo công ty” của Nhật; quy định về “chế độ tái cơ cấu” trong Luật Phá Sản doanh nghiệp của Trung Quốc, Đài Loan. Một số Luật gia  Hoa kỳ định nghĩa đơn giản rằng “ Phá sản là một phương thức giải quyết các khoản nợ của các cá nhân hoặc pháp nhân mà không thể chi trả khi nó tới hạn”.Nhưng phần nhiều Luật gia Hoa Kỳ định nghĩa phức tạp hơn về phá sản như sau “Phá sản vừa là chế tài của chủ nợ mà trong đó quy định việc thu hồi tất cả các tài sản của con nợ chia chúng cho các chủ nợ, vừa là chế tài của con nợ mà trong đó quy định việc giải phóng các khoản nợ quá khứ của con nợ cho phép con nợ có một khởi đầu kinh tế mới trong cuộc đời mình” [3]

Luật Phá Sản của Hoa Kỳ được xây dựng trên cơ sở hữu ái được xây dựng giữa chủ nợ và con nợ nói riêng và giữa con người và con người nói chung. Đây là sự khác biệt lớn về mặt quan điểm pháp lý giữa các Việt Nam và Hoa Kỳ trong lãnh vực này. Các chế tài của con nợ có thể bao gồm:  

- Chuyển giao tài sản kinh doanh để trả cho các chủ nợ.

- Dàn xếp với các  chủ nợ về việc giãn nợ hay giảm nợ.

- Tái cấu trúc.

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Luật Phá Sản thuộc thẩm quyền của liên bang trong khi Luật thương mại là luật của tiểu bang. Bộ Luật Phá Sản liên bang có các chương quy định về thanh lý (Chương 7), tái cấu trúc con nợ (Chương 11), dàn xếp các khoản nợ cá nhân (Chương 13), dàn xếp các khoản nợ của tổ chức đô thị tự quản (Chương 9), dàn xếp các khoản nợ của hộ nông dân (Chương 12). Chương 11 cho phép con nợ tái cấu trúc các khoản nợ. Bắt đầu thủ tục này, Tòa án phá sản chỉ định một QTV tiến hành điều tra và đệ nạp báo cáo cùng với kế hoạch tái cấu trúc (nếu có) lên Tòa án tiến hành thủ tục. Kế hoạch tái cấu trúc. Kế hoạch thoát hiểm bằng thủ tục tái cấu trúc phải được thẩm phán tiến hành vụ việc chấp nhận và được các chủ nợ ở bất kỳ hạng nào nắm trên 2/3 tổng giá trị trái quyền chấp nhận, thủ tục này có thể đổi sang thủ tục thanh lý tại Chương 7.    

1.5.2. Hệ thống pháp luật châu Âu lục địa ( Civil law ).

Một đại diện tiêu biểu đó là Pháp, Luật Phá Sản Pháp hình thành từ rất sớm và chịu nhiều ảnh hưởng của LPS La Mã. Từ những quy định được chính thức luật hóa về lĩnh vực phá sản trong Bộ luật Thương mại năm 1807 đến năm 1967 với sự ra đời của Luật ngày 13/7/1967 và Pháp lệnh ngày 23/9/1967 các quy định của LPS Pháp đã thay đổi mục tiêu, hướng mục tiêu vào “hồi sinh” sự hoạt động của con nợ thay cho chỉ bảo vệ chủ yếu cho lợi ích của chủ nợ như trước đây. 

Các văn bản này đã phân biệt rõ ràng bốn thủ tục:

- Thủ tục thanh toán, quy định sau khi kết toán các khoản nợ, doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt động bình thường.

- Thủ tục thanh lý tài sản, nhằm loại bỏ các doanh nghiệp không có khả năng phục hồi.

- Thủ tục phá sản cá nhân.

- Thủ tục tạm ngừng truy tố. 

Tiếp đó, Pháp đã lần lượt ban hành thêm hai đạo luật mới. Đó là Luật ngày 01/03/1984 về thủ tục phòng ngừa các khó khăn  và giải quyết thông qua thỏa thuận và Luật ngày 25/01/1985 về thủ tục  phục hồi hoạt động  và thanh lý doanh nghiệp bị phá sản.

Sau đó ngày 10/06/1994, Pháp tiếp tục ban hành Luật số 94-975 nhằm đơn giản hóa thủ tục phục hồi và ngày 26/7/2005 ban hành đạo Luật 2005-845 về doanh nghiệp trong tình trạng khó khăn, đưa ra ba thủ tục để doanh nghiệp có thể tiến hành nhằm giải quyết tình trạng khó khăn của mình, đó là:

- Thủ  tục  cứu  doanh  nghiệp. 

- Thủ  tục  phục  hồi  hoạt  động.

- Thủ tục thanh lý tài sản.

Hiện nay, Luật năm 2005 về doanh nghiệp trong tình trạng khó khăn vẫn là một trong những văn bản chính điều chỉnh vấn đề phá sản của Pháp. Bên cạnh đó, Chính phủ Pháp ban hành thêm Pháp lệnh số 2008-1345 ngày 18/12/2008 sửa đổi Luật về doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn và Nghị định số 2009-160 ngày 12/2/2009 hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh số 2008-1345. Hai văn bản này có một số sửa đổi bổ sung về các thủ tục dự báo và giải quyết tình trạng khó khăn của doanh nghiệp song vẫn giữ lại các nội dung cơ bản đã được đề cập trong Luật năm 2005. Cả Luật năm 2005 và Pháp lệnh số 2008-1345 đều đã được đưa vào Bộ luật Thương  mại  Pháp  năm  2009. Thủ tục phục hồi của con nợ do tòa án quyết định theo hướng cho con nợ tiếp tục kinh doanh hoặc chuyển giao toàn bộ hay một phần DN, HTX của con nợ. Việc tiếp tục kinh doanh được quyết định khi con nợ có khả năng phục hồi và con nợ được giải phóng ra khỏi các nghĩa vụ. Trong kế hoạch phục hồi phải nói đến các cách thức của con nợ làm thỏa mãn các yêu cầu của các chủ nợ, Tòa án phải biết rõ thỏa thuận của các chủ nợ về việc giảm nợ, giãn nợ khi có quyết định phục hồi, kế hoạch đã được quyết định có giá trị ràng buộc tất cả các chủ nợ, các khoản nợ của các chủ nợ không nhất trí vẫn bị giãn nợ đồng loạt không kể đến dạng bảo đảm của chúng. Tuy nhiên Tòa án không thể giảm nợ của dạng chủ nợ này.

Việc không tuân thủ các nghĩa vụ tài chính của con nợ được quy định trong kế hoạch phục hồi có thể dẩn tới việc phát sinh thủ tục chuyển giao doanh nghiệp hoặc thanh lý tài sản. Trường hợp chuyển giao doanh nghiệp, Tòa án quyết định duy trì những chi nhánh làm ăn có hiệu quả, duy trì việc làm, người muốn thủ đắc toàn bộ hay một phần doanh nghiệp của con nợ phải lập đề nghị gởi người quản lý mô tả tính chất các công việc trước đó, nói rõ các phương pháp tài trợ để thủ đắc toàn bộ hay một phần của doanh nghiệp của con nợ, đề xuất giá cả và các điều kiện thanh toán ngày thủ đắc, mức độ và triển vọng về việc làm, các bảo đảm ủng hộ cho các đề xuất nói trên. Tòa án xem xét các đề xuất của những người mong muốn thủ đắc khác nhau và lựa chọn đề xuất bảo đảm việc làm và bảo đảm trả nợ ở mức cao nhất, đồng thời quyết định chuyển nhượng những hợp đồng hiện hữu của con nợ cho người mua.

Việc chuyển giao tài sản phải chú ý tới thứ tự ưu tiên của các chủ nợ lúc đó Tòa án có thể cho phép người mua DN của con nợ thuê toàn bộ hay một phần DN,  Người thuê nhất thiết phải mua công ty trong thời hạn hai năm kể từ thời điểm thuê;  nếu chứng minh được việc không có khả năng thuê do một sự kiện ngoài hành động của mình thì người thuê được mở rộng thêm thời hạn thuê, nếu người thuê không chi trả tiền thuê hoặc chuyển nhượng gian lận tài sản thuê cho người thứ ba thì Tòa án có thể phán quyết chấm dứt hợp đồng thuê, kế hoạch chuyển nhượng và có thể ấn định thêm chế tài khác.

Kết luận

Không phải DN, HTX mất khả năng thanh toán là bị tuyên bố phá sản ngay. Để cứu vãn tình trạng phá sản, pháp luật đưa ra các biện pháp cho phép DN, HTX mắc nợ hòa giải với các chủ nợ và tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh. Phá sản là hiện tượng mà cả chủ nợ và con nợ và người lao động đều không mong muốn, vì vậy, việc tạo ra cơ hội cũng như tìm ra các biện pháp để ngăn chặn nó là điều cần thiết. Chính vì thế hòa giải và thực hiện những giải pháp về tổ chức lại kinh doanh là bộ phận cấu thành cơ chế phá sản được quy định trong LPS.

Thủ tục phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, HTX mất khả năng thanh toán là một thủ tục đặc biệt, nhân văn, bởi những lý do sau:

- Đây là một thủ tục được áp dụng nhằm cứu vãn doanh nghiệp mắc nợ, cứu vãn một doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán - tức là tình trạng không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu. Toà án quyết định can thiệp phục hồi doanh nghiệp khi DN, HTX đã bị yêu cầu tuyên bố phá sản và Toà án đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX đó.

- Quá trình áp dụng thủ tục phục hồi sẽ không có sự phân chia tài sản của DN, HTX mắc nợ. Tài sản còn lại của doanh nghiệp này được giữ nguyên và còn được bổ sung, đầu tư thêm cho hoạt động kinh doanh. Các khoản nợ phải trả sẽ tạm ngừng thanh toán, các khoản nợ phải thu thì sẽ được khuyến khích thu về tập trung nguồn lực cho doanh nghiệp.

- Hoạt động của DN, HTX mắc nợ vẫn được duy trì và còn được khuyến khích, ưu tiên tăng cường và được đặt dưới sự giám sát của Toà án, QTV, DN QL TLTS, đại diện chủ nợ.

- Khi áp dụng thủ tục phục hồi, chủ nợ, người mắc nợ được thoả thuận với nhau, đư­a ra phương án, biện pháp thực hiện phương án phục hồi dưới sự giám sát, cho phép của Toà án. Các chủ nợ theo quy định của pháp luật hoặc phải chấp nhận những thiệt thòi, bất lợi (nh­ư chư­a được đòi nợ, phải trả lại những khoản tiền đã thanh toán trước đó trong thời hạn quy định kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản).

Như vậy, thủ tục phục hồi là một trong những thủ tục phá sản do Toà án quyết định, theo thủ tục này, DN, HTX mất khả năng thanh toán có được một thời hạn nhất định để thực hiện phương án phục hồi đã được HNCN thông qua dưới sự giám sát của Toà án và đại diện chủ nợ.

Việc áp dụng thành công thủ tục phục hồi mang lại nhiều ý nghĩa kinh tế, xã hội quan trọng, nó cứu vãn được một doanh nghiệp, tránh được thủ tục xoá sổ một doanh nghiệp, thậm chí một thương hiệu, một bí kíp sản xuất, v...v... Áp dụng thành công thủ tục phục hồi có nghĩa là DN, HTX mắc nợ đã thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán (tình trạng phá sản) trở lại hoạt động sau khi có được những giải pháp, có được sự giúp đỡ về tinh thần, vật chất, kỹ thuật, công nghệ, v...v... và cả những giải pháp kinh tế, kỹ thuật, quản lý của HNCN, thay vì cùng nhau phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp theo tỷ lệ, thì các chủ nợ có cơ hội nhận đủ 100% số nợ.

LG-LS Nguyễn Hữu Đức

Xem thêm Tin Chi hội IBLA