Doanh nghiệp Việt Nam cùng chính quyền đương đầu với đại dịch Covid-19, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2020 và dự báo triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2021

  • www.doanhtri.net
  • 13-01-2021
  • 292 lượt xem
(Doanhtri.net) - Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều nền kinh tế trên thế giới nhưng tình hình diễn biến khả quan hơn tại Việt Nam. Kể từ khi công bố dịch hồi tháng hai, chính phủ đã thi hành nhiều chính sách hiệu quả và hành động sớm để giảm thiểu tác động của đại dịch. Việt Nam đã sớm đương đầu với đại dịch Covid-19, đóng cửa biên giới, tạm dừng cấp thị thực và các chuyến bay, đồng thời áp dụng các biện pháp cô lập xã hội để ngăn chặn đại dịch tốt hơn. Đến nay Việt Nam đã thành công trong việc duy trì số ca lây nhiễm và tử vong ở mức thấp so với nhiều quốc gia khác. Nhìn chung, các chiến lược đối phó COVID-19 của Việt Nam có thể được coi là như một mô hình hiệu quả trong điều kiện nguồn lực hạn chế và là một nghiên cứu điển hình có giá trị cho các quốc gia khác trong việc ứng phó với ổ dịch. Đó là kết quả của những bước đi nhanh chóng, chủ động và quyết liệt của Chính phủ trên tất cả các lĩnh vực bao gồm hệ thống y tế, lực lượng an ninh, chính sách kinh tế, cùng với các chiến dịch truyền thông sáng tạo và hiệu quả. 
 
TsKH Trần Quang Thắng - PCT & TTK ASMES 
Phó Chủ Nhiệm Câu Lạc Bộ Các Nhà Kinh Tế
 
Kinh tế - xã hội nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn. Kinh tế tăng trưởng chậm lại, ở mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Sản xuất kinh doanh bị suy giảm; nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí phải đóng cửa, tạm dừng hoạt động. Việc làm, thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng lớn. Từ đầu năm đến nay, TP.HCM có hơn 13.000 đơn vị tạm ngưng kinh doanh, gần 5.200 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể... Sức chống đỡ của doanh nghiệp gần như đạt đến giới hạn. Từ đầu năm đến nay, tính chung cả nước có gần 94.000 DN tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có hơn 45.000 DN tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng gần 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Có 33.800 DN ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hơn 16.000 DN hoàn tất thủ tục giải thể. Trung bình, mỗi tháng có 14,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, so với gần 8,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Cùng thời điểm, tại TP.HCM có 37.548 DN được cấp phép thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 947.346 tỉ đồng, giảm 7,37% về số lượng nhưng tăng hơn 58% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm ngoái. 
 
Nghị định 126 quy định DN tạm nộp tiền thuế theo 3 quý phải tối thiểu 75% và được áp dụng cho năm quyết toán thuế 2021 chưa thể hiện sự bám sát giúp giải tỏa khó khan cho các doanh nghiệp. Hơn nửa, 90% DN cho biết không với tới được gói hỗ trợ về tài chính trong Covid-19. Trong năm 2020, cả nước có 134,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập, giảm 2,3% so với năm trước, nhưng vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 16,6 tỷ đồng, tăng 32,3%. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy, doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý 1-2021 với 81% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn so với quý 4-2020.
 
 
Mặt khác đối với các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực giao hàng, bán hàng qua thương mại điện tử tăng mạnh. Bất chấp một năm khó khăn trong bối cảnh đại dịch COVID-19, dịch bệnh trên vật nuôi cây trồng phức tạp, biến đổi khí hậu, năm 2020 ngành NNPTNT đã đạt kim ngạch xuất khẩu ấn tượng với 41,25 tỉ USD, tăng 1,6% so với năm 2019. Cần duy trì 9 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD, trong đó có 5 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỉ USD (gỗ và sản phẩm gỗ; tôm; rau quả; hạt điều; gạo). Xuất siêu hàng hóa và dịch vụ đạt 7,1 tỷ USD và là năm thứ 6, Việt Nam liên tiếp xuất siêu hàng hóa, với mức kỷ lục 19,1 tỷ USD năm 2020. Thị trường và khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn là động lực mạnh duy trì sự tăng trưởng dương cho Việt Nam.
 
Sang năm 2021, NHNN định hướng tăng tín dụng khoảng 12% từ mức tăng 11% của năm 2020, đẩy mạnh hỗ trợ tăng trưởng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành, lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,5%/năm. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành 2 văn bản quan trọng chỉ đạo các tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19; tiết giảm chi phí hoạt động, để có điều kiện giảm lãi suất ở mức tối đa; đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, áp dụng công nghệ để hạn chế giao dịch trực tiếp mà vẫn tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng tiếp cận tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ (đặc biệt là lãi suất, tỉ giá) chủ động, linh hoạt phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, đảm bảo thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, thông suốt. Kích hoạt toàn bộ hệ thống phòng chống dịch; không để COVID-19 bùng phát.
 
Trong 3 quý năm 2020, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng 23% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó xuất khẩu các mặt hàng điện tử tăng 26%. Chúng ta đã đối diện với những thử thách lớn chưa từng thấy như đại dịch COVID-19 bùng phát, biến đổi khí hậu, sự cố môi trường Formosa, sạt lở đất, lũ quét, lũ ống ở Tây Bắc, bão lũ, ngập lụt ở Miền Trung đã tác động nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến kết quả thực hiện một số chỉ tiêu.  
 
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, với tăng trưởng kinh tế bình quân 6,8% một năm giai đoạn 2016-2019, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất. Theo con số được Chính phủ Việt Nam công bố, dù phải đối phó với tác động tiêu cực từ dịch bệnh nghiêm trọng Covid-19 trên quy mô toàn thế giới, mức tăng Tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong năm 2020 là 2,91%, kèm theo dự trữ ngoại tệ của Việt Nam trên 113 tỷ USD. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2020 tăng 3,23% so với năm 2019. Việt Nam đã Xuất siêu 2,11 tỷ USD năm 2017; 6,83 tỷ USD năm 2018, 10,87 tỷ USD năm 2019 và đạt mức xuất siêu kỷ lục 20,1 tỷ USD cho năm 2020, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục được cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàm lượng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2020 ước tính đạt 543,9 tỷ USD
 
 
Trong bối cảnh khó khăn do dịch COVID-19, xuất khẩu đã trở thành điểm sáng và là tiền đề quan trọng để nền kinh tế tự tin bước vào năm 2021.
 
Theo Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo GDP Việt Nam năm 2020 ước đạt 340,6 tỷ USD, trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 khu vực Đông Nam Á.
 
Dự báo khả quan nền kinh tế Việt Nam trong năm 2021 
 
Nến kinh tế Việt Nam sẽ khởi sắc trong năm 2021 do các tác động chính sau đây:
 
Doanh nghiệp hoàn thiện chuỗi cung ứng sau dịch COVID-19 
 
Đại dịch COVID-19 đã tác động đáng kể đến chuỗi cung ứng toàn cầu, dẫn đến các doanh nghiệp bị thiệt hại kể cả Việt Nam. Một số nhà sản xuất ô tô bao gồm Honda, Toyota, Nissan và Ford có nhà máy sản xuất tại Việt Nam đã buộc phải tạm ngừng hoạt động do đại dịch. Việc tạm dừng các chuyến bay đã làm gia tăng thêm vấn đề hạn chế về thương mại và giá cước vận tải hàng không tăng đột biến.
 
Nhu cầu ít hơn cũng khiến các đơn đặt hàng bị hủy dẫn đến xuất khẩu giảm, buộc các công ty phải sa thải nhân viên. Vào năm 2021, các chuỗi cung ứng sẽ cần trở nên thông minh hơn, hiệu quả hơn. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ cần phải phát triển, đa dạng hóa và tìm cách giảm chi phí để đảm bảo rằng họ có thể duy trì chuỗi cung ứng của mình linh hoạt. Nó cũng có nghĩa là xem xét lại các địa điểm khác tùy thuộc vào loại hình công nghiệp và nguyên liệu thô để đảm bảo các kế hoạch dự phòng vẫn được duy trì. Với việc vắc-xin sẽ trở nên phổ biến  và hoạt động du lịch hàng không toàn cầu tiếp tục ổn định, các doanh nghiệp nên tận dụng cơ hội để đảm bảo một chuỗi cung ứng đáng tin cậy với các kế hoạch phòng ngừa sự cố cho tương lai.
 
Các hiệp định thương mại Việt Nam-EU, CP-TPP và Việt Nam – Anh
 
EVFTA có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2020, mở đường cho việc gia tăng thương mại giữa EU và Việt Nam, loại bỏ gần 99% thuế hải quan giữa hai nước. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), FTA dự kiến sẽ giúp tăng GDP của Việt Nam thêm 4,6% và xuất khẩu sang EU tăng 42,7% vào năm 2025. Trong khi Ủy ban châu Âu dự báo GDP của EU sẽ tăng thêm 29,5 USD. tỷ vào năm 2035.
 
Các nhà phân tích hy vọng thỏa thuận thương mại sẽ tạo ra một động lực rất cần thiết cho các ngành công nghiệp của Việt Nam, chẳng hạn như sản xuất, vì nó có vẻ sẽ phục hồi sau đại dịch. Đối với Việt Nam, việc xóa bỏ thuế quan sẽ mang lại lợi ích cho các ngành xuất khẩu chủ lực, bao gồm sản xuất điện thoại thông minh và sản phẩm điện tử, dệt may, da giày và các sản phẩm nông nghiệp như cà phê. Kèm theo việc tăng khối lượng xuất khẩu của Việt Nam sang EU, FTA sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng các ngành công nghiệp này, cả về vốn và tăng việc làm khi bước vào năm 2021.
 
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vừa được ký kết vào ngày 15 tháng 11 tiếp tục được xây dựng dựa trên các hiệp định thương mại tự do trong ASEAN và định hình chính sách thương mại trong tương lai.
 
 
RCEP bao gồm 15 quốc gia bao gồm các thành viên ASEAN mà Việt Nam là một thành viên, cũng như Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand. Cũng giống như EVFTA được phê chuẩn gần đây và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), RCEP sẽ giảm thuế quan và đặt ra các quy tắc thương mại, đồng thời giúp liên kết chuỗi cung ứng, đặc biệt khi các chính phủ phải đối mặt với các tác động của COVID-19. Thuế quan theo thỏa thuận dự kiến sẽ giảm trong vòng 20 năm. Dựa trên một số FTA khác, RCEP dự kiến sẽ mang lại lợi ích cho các ngành hàng xuất khẩu chính của Việt Nam bao gồm công nghệ thông tin (CNTT), giày dép, nông nghiệp, ô tô và viễn thông. Nếu được sáu nước ASEAN và ba nước ngoài ASEAN phê chuẩn, hiệp ước sẽ chính thức có hiệu lực sớm nhất là vào nửa cuối năm 2021.
 
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Vương quốc Anh sẽ có hiệu lực vào đầu năm 2021. Anh cũng là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam tại khu vực châu Âu (sau Đức và Hà Lan). Sản phẩm làm tại Việt Nam được tiêu dùng tại Anh lớn hơn rất nhiều số liệu thống kê vì một lượng đáng kể hàng Việt Nam được nhập qua các hải cảng lớn tại Hà Lan, Bỉ, Đức, Pháp và Séc trước khi vào Anh. Các sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh tại thị trường Anh gồm nông sản nhiệt đới, thủy sản, giầy dép, dệt may, đồ da, đồ gỗ, đồ gốm, thuỷ tinh, đồ nhựa và sản phẩm cao su của Việt Nam và máy móc, mô tô, dược phẩm, sản phẩm từ giấy, sản phẩm từ gỗ và bột giấy, sản phẩm sắt thép, hóa chất. Việt Nam sẽ có thêm lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ mạnh đến từ Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và Myanmar. Đây là những nước không có triển vọng ký kết FTA với Anh trong nhiều năm tới; có thêm cơ hội hợp tác đầu tư và chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý hiện đại từ các doanh nghiệp Anh; có thêm cơ hội thu hút khách du lịch Anh khi dịch Covid-19 kết thúc.
 
Qui tắc lao động mới
 
Việt Nam đã thông qua qui tắc lao động mới, sẽ có hiệu lực vào tháng 1 năm 2021. Việc sửa đổi nội quy lao động là một bước hướng tới việc phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã lưu ý. Hầu hết các quy tắc vẫn giữ nguyên, các thay đổi đã được áp dụng đối với việc làm thử việc, các quy tắc giờ làm việc bắt buộc, yêu cầu thông báo và các quy định khác nói chung đã phù hợp với nhân viên. Bộ luật mới sẽ có tác động đến các doanh nghiệp và người sử dụng lao động nên tìm cách nhận hỗ trợ về thực tiễn lao động của họ để đảm bảo các chính sách của họ tuân thủ pháp luật vào năm 2021.
 
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
 
Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi, sẽ có hiệu lực vào tháng 1 năm 2021. Cả hai luật đều được thông qua kịp thời khi các hiệp định thương mại tự do mới được thông qua. Luật Doanh nghiệp sửa đổi giúp đơn giản hóa quy trình đăng ký kinh doanh, xác định lại doanh nghiệp nhà nước (SOE) và loại trừ kinh doanh hộ gia đình ra khỏi phạm vi điều chỉnh của luật hiện hành. Luật Đầu tư sửa đổi cập nhật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, cơ chế ưu đãi đầu tư, cơ chế hỗ trợ đồng thời xóa bỏ thủ tục hành chính đối với một số loại dự án đầu tư. Những thay đổi này nhấn mạnh những nỗ lực của chính phủ nhằm cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh của Việt Nam vào năm 2021.
 
Sáp nhập và mua lại
 
Hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) có khả năng tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam vào năm 2021. Bất chấp đại dịch, hoạt động M&A đã chứng kiến các giao dịch trị giá khoảng 500 triệu đô la Mỹ. Không chỉ vậy, thị trường M&A dự kiến sẽ giảm xuống còn 3,5 tỷ USD, bằng 48,6% so với năm ngoái. Tuy nhiên, hầu hết các thương vụ xảy ra trong lĩnh vực bất động sản, tài chính, ngân hàng và bán lẻ. Năm 2021, hoạt động mua bán và sáp nhập của Việt Nam dự kiến sẽ phục hồi khoảng 4,5-5 tỷ đô la Mỹ và tiến đến con số trước COVID-19 là 7 tỷ đô la Mỹ vào năm 2022 theo dự báo Trung tâm Đầu tư và Sáp nhập Doanh nghiệp (CMAC). Việt Nam là thị trường có hoạt động M&A năng động và tiềm năng nhất trên toàn cầu, chỉ sau Mỹ và dự báo Việt Nam sẽ tiếp tục giữ vị trí thứ hai trong top 20 quốc gia có chỉ số M&A cao nhất vào năm 2021.
 
Nhà đầu tư lạc quan về Việt Nam
 
Việc Việt Nam ngăn chặn thành công đại dịch, an ninh chính trị được giữ vững, tăng trưởng kinh tế tích cực và việc phê chuẩn các hiệp định thương mại tự do gần đây đã làm yên lòng các nhà đầu tư. Tất cả những yếu tố này đã giúp Việt Nam trở thành một địa điểm đầu tư thay thế hiệu quả cao ở Đông Nam Á. Các nhà đầu tư vẫn lạc quan về quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam và tiếp tục quan tâm đến thị trường Việt Nam. 
 
Mặc dù Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi, nhưng những sự kiện nêu trên sẽ định hình năm 2021 với vị thế tốt để phục hồi tăng trưởng kinh tế và tiếp tục tăng trưởng ổn định.
 
TsKH Trần Quang Thắng - PCT & TTK ASMES
Phó Chủ Nhiệm Câu Lạc Bộ Các Nhà Kinh Tế
 
www.doanhtri.net

Xem thêm Doanh nghiệp