Năng lượng xanh: tiềm năng, thánh thức, cơ hội, lợi ích và giải pháp phát triển- TsKH Trần Quang Thắng

  • www.doanhtri.net
  • 24-05-2023
  • 733 lượt xem
Năng lượng xanh là năng lượng được sản xuất từ các nguồn tự nhiên có thể tái tạo, liên tục và ít gây ảnh hưởng đến môi trường. Một số loại năng lượng xanh hiện nay có thể được liệt kê ra như sau: 
 
Năng lượng mặt trời: là năng lượng được tạo ra bằng cách sử dụng các tế bào quang điện để thu nhận ánh sáng mặt trời và chuyển hóa nó thành điện năng. Năng lượng mặt trời cũng được sử dụng để làm nóng nước, sưởi ấm các tòa nhà, nấu chín thức ăn và cung cấp ánh sáng tự nhiên. 
 
Năng lượng gió: là năng lượng được tạo ra bằng cách sử dụng các tua bin gió để khai thác dòng không khí chuyển động trên bề mặt Trái đất. Các vị trí hay khu vực ở trên cao, ngoài biển, có xu hướng thu được nhiều gió và sức gió mạnh nhất. 
 
Năng lượng sóng: là năng lượng được tạo ra bằng cách sử dụng các thiết bị để thu nhận sự dao động của mực nước biển do sóng gây ra. Năng lượng sóng có thể được chuyển hóa thành điện năng hoặc cơ năng. 
 
Năng lượng địa nhiệt: là năng lượng được tạo ra bằng cách sử dụng nhiệt từ lòng đất để làm nóng hoặc làm lạnh các tòa nhà, sản xuất điện hoặc phục vụ các mục đích công nghiệp. Năng lượng địa nhiệt có thể được khai thác từ các nguồn như hơi nước, dung dịch muối hoặc đá nóng. 
 
Năng lượng sinh khối: là năng lượng được tạo ra bằng cách sử dụng các nguồn vật liệu hữu cơ như cây trồng, rác thải sinh học, phân bón hay khí đốt để sản xuất điện, khí hoặc chất lỏng. Năng lượng sinh khối có thể được chuyển hóa thành năng lượng bằng các phương pháp như đốt cháy, khử oxi hóa hoặc phân huỷ sinh học. 
 
Năng lượng thủy điện: là năng lượng được tạo ra bằng cách sử dụng sức chảy của nước để quay các tua bin và phát điện. Năng lượng thủy điện có thể được khai thác từ các nguồn như sông, suối, hồ chứa hoặc thủy triều. 
 
 
Phát triển năng lượng xanh cho đô thị thông minh là một chủ đề quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa. Nhiều giải pháp được đề xuất và triển khai để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số xanh cho các đô thị thông minh tại Việt Nam, như: 
 
- Sử dụng năng lượng mặt trời thông minh để giảm phát thải carbon và tăng hiệu quả tiêu thụ điện năng.
 
- Xây dựng cơ sở trung tâm dữ liệu ứng dụng vào tiền chế, mô-đun hóa, xây dựng nền tảng số carbon thấp. 
 
- Triển khai các ứng dụng về giao thông thông minh, du lịch thông minh, giáo dục thông minh, y tế thông minh… để nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và tiết kiệm nguồn lực. 
 
- Nâng cấp và quản lý quy hoạch đô thị theo hướng bền vững, xanh và hiện đại, coi trọng các yếu tố văn hóa và cảnh quan đặc thù của từng vùng, miền và loại, cấp đô thị. 
 
Phát triển năng lượng xanh cho các đô thị hiện đại có một ý nghĩa quan trọng và thiết thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhờ vào việc: 
 
Giảm thiểu phát thải khí nhà kính và góp phần bảo vệ môi trường sống. 
 
Tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng và tiết kiệm chi phí vận hành cho các hoạt động đô thị. 
 
Nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe cho người dân đô thị thông qua các ứng dụng thông minh về giao thông, du lịch, giáo dục, y tế… 
 
Thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững và hội nhập quốc tế. 
 
Việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính bằng năng lượng xanh là một trong những biện pháp quan trọng để ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện cam kết trung hoà carbon của Việt Nam. Một số cách để giảm thiểu phát thải khí nhà kính bằng năng lượng xanh như sau: 
 
- Chuyển dịch cơ cấu nguồn năng lượng từ các nguồn năng lượng hóa thạch sang các nguồn năng lượng tái tạo và sạch như điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối, điện khí khí hoá lỏng thiên nhiên… 
 
- Tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng và áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng trong các lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng như công nghiệp, giao thông, xây dựng, gia dụng…
 
- Trồng nhiều cây xanh và phát triển các mô hình nông lâm kết hợp để hấp thụ khí CO2 và tăng trữ lượng carbon trong đất. 
 
- Xử lý và tái sử dụng chất thải trong sản xuất và sinh hoạt để giảm lượng khí metan và khí nitơ oxit phát thải ra môi trường. 
 
 
Việt Nam có tiềm năng rất lớn về các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối, điện thủy…  
 
- Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3260 km, với tốc độ gió trung bình 7 m/s1, rất thuận lợi cho việc phát triển điện gió ngoài khơi. Ước tính Việt Nam có tiềm năng phát triển điện gió ngoài khơi khoảng 475 GW. 
 
- Việt Nam cũng có tiềm năng phát triển điện mặt trời cao nhờ vị trí địa lý thuận lợi gần xích đạo và có nhiều giờ nắng trong năm. Ước tính Việt Nam có tiềm năng phát triển điện mặt trời khoảng 300 - 500 GW. 
 
- Việt Nam cũng có tiềm năng phát triển điện sinh khối từ các nguồn chất thải rắn và khí sinh học từ các hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi. Ước tính Việt Nam có tiềm năng phát triển điện sinh khối khoảng 10 - 13 GW. 
 
- Việt Nam cũng có tiềm năng phát triển điện thủy từ các sông ngòi và các hồ chứa lớn. Ước tính Việt Nam có tiềm năng phát triển điện thủy khoảng 21 - 35 GW. 
 
Hiện nay Việt Nam đã và đang khai thác các loại năng lượng xanh sau đây: 
 
Năng lượng mặt trời: Việt Nam có tiềm năng về năng lượng mặt trời do có nhiều giờ nắng và bức xạ cao. Việt Nam đã áp dụng chính sách giá bán điện cố định cho các dự án năng lượng mặt trời từ năm 2017 đến 2020, thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tính đến cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt điện mặt trời đạt khoảng 16 GW, chiếm 27% tổng công suất đặt toàn hệ thống. 
 
Năng lượng gió: Việt Nam cũng có tiềm năng về năng lượng gió do có bờ biển dài và địa hình đa dạng. Việt Nam cũng đã áp dụng chính sách giá bán điện cố định cho các dự án năng lượng gió từ năm 2011 đến 2021, khuyến khích phát triển các dự án điện gió trên cạn và ngoài khơi. Tính đến cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt điện gió đạt khoảng 4 GW, chiếm 5% tổng công suất đặt toàn hệ thống. 
 
Năng lượng sinh khối: Việt Nam có nguồn nguyên liệu sinh khối phong phú do có nhiều hoạt động nông lâm ngư nghiệp và rác thải sinh học. Việt Nam đã ban hành các chính sách hỗ trợ cho việc sử dụng năng lượng sinh khối như giá bán điện ưu đãi, miễn giảm thuế và hỗ trợ tài chính. Tính đến tháng 10/2021, tổng công suất lắp đặt điện sinh khối và rác là 321 MW. 
 
Năng lượng thủy điện: Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng về năng lượng thủy điện do có hệ thống sông ngòi phong phú và địa hình thuận lợi. Năng lượng thủy điện là nguồn điện chủ yếu của Việt Nam trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, việc xây dựng các nhà máy thủy điện cũng gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường và an ninh lương thực. Tính đến cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt điện thủy điện là 21 GW, chiếm 28% tổng công suất đặt toàn hệ thống. 
 
Bên cạnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu nguồn năng lượng là một trong những chiến lược quan trọng của Việt Nam để phát triển kinh tế - xã hội bền vững và thực hiện cam kết trung hoà carbon vào năm 2050. Việc chuyển dịch cơ cấu nguồn năng lượng của Việt Nam được thực hiện như sau: 
 
Mục tiêu của Việt Nam là giảm tỷ trọng các nguồn năng lượng hóa thạch như than, dầu và khí đốt trong cơ cấu nguồn năng lượng từ 58% năm 2020 xuống 36% năm 2030 và 15% năm 2045. 
 
Đồng thời, tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối… từ 9,9% năm 2020 lên 32% năm 2030 và 44% năm 2045. 
 
Ngoài ra, Việt Nam cũng có kế hoạch phát triển nguồn năng lượng nguyên tử với tỷ trọng khoảng 10% vào năm 2030 và 15% vào năm 2045. 
 
Để thực hiện chuyển dịch cơ cấu nguồn năng lượng, Việt Nam cần đối mặt với nhiều thách thức như thiếu hụt vốn đầu tư, thiếu hạ tầng truyền tải và phân phối điện, thiếu chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng sạch… 
 
Tuy nhiên, Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để chuyển dịch cơ cấu nguồn năng lượng như có tiềm năng phong phú về các nguồn năng lượng tái tạo, có sự hỗ trợ từ các đối tác quốc tế, có sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân và xã hội dân sự… 
 
Trước mắt, mục tiêu phát triển năng lượng mặt trời và năng lượng gió là hai chủ đề quan trọng cần được tập trung.  
 
Điện gió ngoài khơi là một trong các giải pháp đột phá để Việt Nam thực hiện cam kết trung hòa carbon vào năm 2050 và tăng cường an ninh năng lượng quốc gia.  
 
- Việt Nam có tiềm năng phát triển điện gió ngoài khơi khoảng 475 GW, trong đó tiềm năng kỹ thuật khoảng 160 GW. Các vùng biển có khả năng khai thác tiềm năng gió tốt nhất là từ Bình Định đến Ninh Thuận, Bình Thuận đến Cà Mau, và một phần vùng biển trung tâm vịnh Bắc Bộ. 
 
- Dự thảo Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu sẽ đạt khoảng 7 GW điện gió ngoài khơi vào năm 2030, chiếm tỷ trọng 4,8% tổng công suất hệ thống4. Hiện nay, Việt Nam đã có một số dự án điện gió ngoài khơi đang được triển khai hoặc chuẩn bị đầu tư, như dự án La Gàn (3.500 MW) tại Bình Thuận5, dự án Thăng 
Long (3.400 MW) tại Ninh Thuận, dự án Hướng Phùng (1.400 MW) tại Bà Rịa - Vũng Tàu… 
 
- Việc phát triển điện gió ngoài khơi cũng gặp nhiều thách thức như thiếu hạ tầng truyền tải và phân phối điện, thiếu chính sách hỗ trợ và khuyến khích đầu tư, thiếu nguồn nhân lực và kỹ thuật chuyên ngành, thiếu sự hợp tác giữa các bên liên quan…
 
- Để khắc phục những thách thức này, Việt Nam cần có những giải pháp đột phá như xây dựng cơ chế mua bán điện gió ngoài khơi ổn định và hấp dẫn, xây dựng hệ thống lưới điện thông minh và linh hoạt, xây dựng nguồn nhân lực và kỹ thuật chất lượng cao, xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ cho điện gió ngoài khơi, huy động vốn đầu tư từ các nguồn trong và ngoài nước, hợp tác với các đối tác quốc tế có kinh nghiệm và uy tín…
 
Việc phát triển năng lượng mặt trời là một trong những hướng đi của Việt Nam trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. 
 
Việt Nam có tiềm năng về năng lượng mặt trời do nằm ở khu vực cận xích đạo, với tổng số giờ nắng cao lên đến 2.500 giờ/năm, tổng lượng bức xạ trung bình năm vào khoảng 230-250 kcal/cm2/ngày. Năng lượng mặt trời có thể giúp giảm thiểu phát thải khí nhà kính, an ninh năng lượng và chi phí sản xuất điện. 
 
Việt Nam đã áp dụng chính sách giá bán điện cố định (FIT) cho các dự án năng lượng mặt trời từ năm 2017 đến 2020, với mức giá từ 9,35 cent/kWh đến 7,09 cent/kWh tùy theo loại hình dự án. Chính sách này đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các dự án năng lượng mặt trời, với tổng công suất lắp đặt đạt khoảng 16 GW vào cuối năm 2020. 
 
Việt Nam đang cân nhắc việc chuyển từ chính sách FIT sang đấu thầu cạnh tranh cho các dự án năng lượng mặt trời để giảm chi phí sản xuất điện và tăng hiệu quả quản lý. Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng chiến lược và khung đấu thầu cạnh tranh cho các dự án năng lượng mặt trời. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể tăng công suất điện mặt trời từ 4,5 GW hiện nay lên hàng chục GW trong mười năm tới. 
 
Việt Nam đồng thời đã nhận được nhiều sự hỗ trợ quốc tế cho phát triển năng lượng xanh và bền vững như sau: 
 
Việt Nam đã ký kết thỏa thuận Đối tác Chuyển dịch năng lượng bình đẳng (JETP) với Nhóm đối tác Quốc tế (IPG) bao gồm Liên minh Châu Âu, Vương quốc  Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Italy, Canada, Nhật Bản, Na Uy và Đan Mạch vào ngày 14/12/2022. Thỏa thuận này sẽ huy động 15,5 tỷ USD nguồn tài chính từ khối tư nhân và chính phủ trong 3 đến 5 năm tới để hỗ trợ quá trình chuyển dịch xanh của Việt Nam. 
 
Việt Nam cũng đã hợp tác với Liên minh Châu Âu (EU) trong việc thực hiện Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo vệ Đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA), trong đó có các cam kết liên quan đến năng lượng xanh và phát triển bền vững. EU cũng đã hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng và triển khai Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng Xanh và Chiến lược Quốc gia về Biến đổi Khí hậu. 
 
Việt Nam cũng đã nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế khác như 
 
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ), Cơ quan Năng lượng tái tạo Quốc tế (IRENA)… trong việc phát triển các dự án năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, cải thiện cơ sở hạ tầng truyền tải và phân phối điện, đào tạo nhân lực và kỹ thuật chuyên ngành, chuyển giao công nghệ…
 
Việc phát triển năng lượng xanh cũng đối mặt với một số thách thức và rủi ro, đó là: 
 
Thách thức về vốn đầu tư: Năng lượng xanh là một lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, dài hạn và có rủi ro cao. Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD để chuyển đổi năng lượng và phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, trong đó ngành năng lượng chiếm khoảng 64 tỷ USD1 . Để đáp ứng nhu cầu tài chính, cần có sự kết hợp của nhiều nguồn lực, bao gồm tái phân bổ nguồn tiết kiệm nội địa, tăng dự trữ quốc gia và nguồn hỗ trợ tài chính từ bên ngoài.
 
Thách thức về cơ chế và chính sách: Năng lượng xanh cần có một khung pháp lý và cơ chế giá điện phù hợp để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia. Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có một cơ chế giá điện ổn định và minh bạch cho các dự án năng lượng tái tạo. Việc thiếu nhất quán trong việc ban hành các quyết định, thông tư và quy hoạch liên quan đến năng lượng xanh cũng gây khó khăn cho các nhà đầu tư. 
 
Thách thức về hạ tầng và kỹ thuật: Năng lượng xanh cần có một hệ thống hạ tầng truyền tải và phân phối điện hiệu quả và an toàn. Hiện nay, Việt Nam vẫn gặp phải tình trạng quá tải đường dây truyền tải ở một số khu vực có tiềm năng năng lượng tái tạo cao, như Ninh Thuận, Bình Thuận. Điều này khiến cho nhiều nhà máy điện không thể phát hết công suất vào lưới. Ngoài ra, năng lượng xanh còn gặp phải những rủi ro kỹ thuật do tính biến động của nguồn năng lượng thiên nhiên. 
 
Các giải pháp cho việc phát triển ổn định năng lượng xanh là: 
 
Giải pháp về vốn đầu tư: Cần có sự hợp tác giữa các bên liên quan, bao gồm chính phủ, doanh nghiệp, ngân hàng và các tổ chức quốc tế để huy động và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho các dự án năng lượng xanh. Cần có các cơ chế tài chính hỗ trợ như ưu đãi thuế, miễn giảm lãi suất, bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm rủi ro và các quỹ đầu tư xanh. 
 
Giải pháp về cơ chế và chính sách: Cần có một khung pháp lý và cơ chế giá điện minh bạch, ổn định và hấp dẫn cho các nhà đầu tư năng lượng xanh. Cần có các quy hoạch và kế hoạch chi tiết để thực hiện các mục tiêu giảm phát thải và chuyển đổi năng lượng. Cần có sự thống nhất và nhất quán trong việc ban hành và thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến năng lượng xanh. 
 
Giải pháp về hạ tầng và kỹ thuật: Cần nâng cấp và mở rộng hệ thống hạ tầng truyền tải và phân phối điện để đảm bảo khả năng tiếp nhận và ổn định điện từ các nguồn năng lượng xanh. Cần áp dụng các công nghệ tiên tiến và thông minh để quản lý và điều chỉnh điện từ các nguồn năng lượng biến động. Cần nghiên cứu và phát triển các giải pháp lưu trữ điện để tăng tính linh hoạt của hệ thống điện. 
 
 
Ngoài ra việc phát triển năng lượng xanh cũng cần một số chính sách khuyến khích của Nhà nước như: 
 
- Nghị quyết 55-NQ/TW 2020 định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam: Nghị quyết này nhấn mạnh việc giảm tối đa các nhà máy nhiệt điện than, giảm tối đa phát thải khí CO2 đồng thời không phát triển thêm nhà máy nhiệt điện than mới sau năm 2030. Nghị quyết cũng đề ra các mục tiêu về tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp và trong cấu trúc sản xuất điện.
 
- Quyết định 876/QĐ-TTg 2022 phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải: Quyết định này đề ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện chuyển đổi năng lượng xanh trong ngành giao thông vận tải. Một số mục tiêu cụ thể là phấn đấu đến năm 2025, tỷ lệ đảm nhận của vận tải hành khách công cộng tại Hà Nội đạt 45% - 50%, TP. Hồ Chí Minh đạt 25%. Đến năm 2050, 100% phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy thi công tham gia giao thông chuyển đổi sang sử dụng điện, năng lượng xanh.
 
- Các chính sách về giá điện và thuế: Nhà nước cũng đã ban hành các chính sách về giá điện và thuế để khuyến khích sử dụng và phát triển năng lượng xanh. Ví dụ như Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển dự án điện mặt trời trên đất liên kết với phát triển nông nghiệp; Nghị định số 57/2020/NĐ-CP về cơ chế hỗ trợ cho dự án điện gió; Nghị định số 52/2021/NĐ-CP về miễn thuế nhập khẩu cho hàng hóa nhập khẩu làm nguyên liệu, vật liệu sản xuất và lắp ráp các loại xe sử dụng nguồn năng lượng mới. 
 
TsKH Trần Quang Thắng 
Viện Trưởng Viện Kinh Tế & Quản Lý thành phố Hồ Chí Minh 
www.doanhtri.net

Xem thêm Doanh nghiệp