Nợ xấu của ngân hàng được quy định như thế nào? - Doanh Trí

Nợ xấu của ngân hàng được quy định như thế nào?

Các khoản cho vay sẽ được thực hiện phân loại nợ vào thời điểm cuối mỗi quý cho 3 quý đầu năm và ngày 30 tháng 11 cho quý 4 trong năm tài chính.

 

Việc phân loại nợ cho các khoản tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác (trừ tiền gửi thanh toán), mua và ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết, cho vay khách hàng và ủy thác cấp tín dụng, các khoản nợ đã bán nhưng chưa thu được tiền được thực hiện theo phương pháp dựa trên yếu tố định lượng được quy định tại Điều 10 của Thông tư 02.

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNH (Thông tư 02), các khoản cho vay khách hàng được phân loại theo các mức rủi ro như sau: Nợ đủ tiêu chuẩn (nợ nhóm 1), Nợ cần chú ý (nợ nhóm 2), Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3), Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4), và Nợ có khả năng mất vốn dựa vào tình trạng quá hạn (nợ nhóm 5).

Các khoản cho vay sẽ được thực hiện phân loại nợ vào thời điểm cuối mỗi quý cho 3 quý đầu năm và ngày 30 tháng 11 cho quý 4 trong năm tài chính.

Đối với dự phòng cụ thể, theo Thông tư 02, dự phòng cụ thể tại ngày 31 tháng 12 được xác định bằng dư nợ sau khi trừ đi giá trị tài sản bảo đảm đã được khấu trừ nhân với tỷ lệ dự phòng theo phân loại nhóm nợ tại ngày 30 tháng 11. Tỷ lệ dự phòng đối với từng nhóm nợ cụ thể như sau:

Nợ đủ tiêu chuẩn: 0%; Nợ cần chú ý: 5%; Nợ dưới tiêu chuẩn: 20%; Nợ nghi ngờ: 50%; Nợ có khả năng mất vốn: 100%.

Tỷ lệ dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau:

Nợ xấu của ngân hàng được quy định như thế nào? - Ảnh 1.

Đối với dự phòng chung, Thông tư 02 quy định dự phòng chung được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm.

Theo đó, ngân hàng phải thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ được phân loại vào từ nhóm 1 đến nhóm 4 ngoại trừ các khoản sau đây: Tiền gửi liên ngân hàng, khoản vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá đối với TCTD khác, cam kết ngoại bảng.

Thông thư 02 cũng quy định về xử lý rủi ro tín dụng, dự phòng được ghi nhận như một khoản chi phí trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và được sử dụng để xử lý các khoản nợ. Ngân hàng thành lập Hội đồng xử lý rủi ro để xử lý các khoản nợ nếu chúng được phân loại vào nhóm Nợ có khả năng mất vốn, hoặc nếu khách hàng vay là pháp nhân bị giải thể, phá sản, hoặc cá nhân bị chết hoặc mất tích.

Đối với quy định dự phòng cho các cam kết ngoại bảng, theo Thông tư 02, tổ chức tín dụng phải thực hiện phân loại đối với các khoản bảo lãnh, chấp nhận thanh toán và cam kết cho vay không hủy ngang vô điều kiện và có thời điểm thực hiện cụ thể (gọi chung là các khoản cam kết ngoại bảng) vào các nhóm quy định tại Điều 10, Điều 11 của Thông tư 02 để quản lý, giám sát chất lượng tín dụng.

Theo đó, các khoản cam kết ngoại bảng được phân loại theo các mức độ rủi ro như sau: Nợ đủ tiêu chuẩn, Nợ cần chú ý, và Nợ dưới tiêu chuẩn.

Theo Ngân Giang   Ihttps://infonet.vn/

Duy Tan Tuyen Sinh 2019

Tin liên quan

Châu Á đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng trị giá 800 tỷ USD?

Châu Á đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng trị giá 800 tỷ USD?

Theo một báo cáo, châu Á hiện “không thể tự nuôi sống mình” - và cần đầu tư thêm 800 tỷ USD trong 10 năm tới để sản xuất thêm lương thực và đáp ứng nhu cầu của khu vực này. Chi tiêu dành cho thực phẩm sẽ tăng hơn gấp đôi - từ 4 nghìn tỷ USD vào năm 2019 lên hơn 8 nghìn tỷ USD vào năm 2030, báo cáo "Thách thức về vấn đề thực phẩm của châu Á" được công bố vào tuần trước cho biết.

NHNN bảo đảm tuân thủ “luật chơi” quốc tế khi quản lý trung gian thanh toán

NHNN bảo đảm tuân thủ “luật chơi” quốc tế khi quản lý trung gian thanh toán

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa tổ chức Hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp Dự thảo nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt (thay thế Nghị định 101/2012/NĐ-CP) với nhiều ý kiến đóng góp đa dạng từ Hiệp hội, doanh nghiệp và chuyên gia pháp lý hoạt động trong lĩnh vực thanh toán.

Lãi suất huy động có thể giảm 0,5 -1% sau Tết Nguyên đán?

Lãi suất huy động có thể giảm 0,5 -1% sau Tết Nguyên đán?

Lãi suất huy động có thể giảm mạnh hơn ở nhóm các ngân hàng cổ phần tư nhân. Báo cáo thị trường tiền tệ tháng 11 của các nhà phân tích SSI Research vừa công bố cho biết, ngoại trừ 4 NHTM nhà nước và một vài NHTM lớn, lãi suất huy động các kỳ hạn 1 đến dưới 6 tháng của hầu hết các NHTM trong những tháng gần đây đều đang ở mức 5,5%/năm nên khi trần lãi suất huy động giảm, một loạt các NHTM cũng điều chỉnh giảm lãi suất ở kỳ hạn này về mức 5%/năm kể từ ngày 19/11/2019.

"Nô lệ tín dụng": Cơn nghiện ngày càng nặng của nền kinh tế số 1 thế giới

Nghe có vẻ kỳ nhưng nếu bạn không vay nợ đồng nào và có 10 USD trong tài khoản tiết kiệm, bạn đã giàu hơn 80 triệu người dân Mỹ khác, tương đương 25% tổng dân số. Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và quốc gia này cũng đứng đầu về tỷ lệ nợ nần cá nhân. Trong hơn 30 năm qua, các hộ gia đình Mỹ ngày càng vay nợ nhiều để chi tiêu và tình trạng này tác động cả tích cực lẫn tiêu cực lên nền kinh tế. Thống kê của viện Pew cho thấy phần lớn các hộ gia đình Mỹ ngày nay có nhiều nợ nần hơn số tài sản khả dụng và 89% số gia đình Mỹ có một khoản nợ nào đó phải trả.

10 vụ rò rỉ dữ liệu lớn nhất ngành tài chính, ngân hàng:

10 vụ rò rỉ dữ liệu lớn nhất ngành tài chính, ngân hàng: "Khủng" nhất vừa xảy ra năm nay, ảnh hưởng tới 143 triệu người dùng

Tin tặc cho thấy hệ thống bảo mật của các tổ chức tài chính, ngân hàng - vốn nắm giữ dữ liệu vô cùng nhạy cảm - không hề "bất khả xâm phạm" như kỳ vọng của khách hàng. Người dùng thường kỳ vọng ngân hàng và các tổ chức tài chính sẽ sử dụng các biện pháp bảo mật cao hơn do liên quan tới dữ liệu nhạy cảm. Các công ty này thường xử lý lượng thông tin khổng lồ và có giá trị như số căn cước, số thẻ tín dụng, ngày sinh, địa chỉ, số điện thoại, chỉ số tín dụng… Nếu kẻ xấu có được thông tin này, chúng hoàn toàn có khả năng truy cập tài khoản của nạn nhân và tiêu đến đồng xu cuối cùng của họ.

Chính phủ không bảo lãnh vốn giai đoạn 1 sân bay Long Thành

Chính phủ không bảo lãnh vốn giai đoạn 1 sân bay Long Thành

Quốc hội thông qua Nghị quyết về giai đoạn 1 Dự án sân bay Long Thành với lưu ý "vốn là của nhà đầu tư, Chính phủ không bảo lãnh". Chiều 26/11, với hơn 90% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1. Theo đó, giai đoạn 1 dự án sân bay Long Thành sẽ gồm 1 đường cất hạ cánh, 1 nhà ga hành khách cùng các hạng mục phụ trợ, với công suất 25 triệu hành khách một năm và 1,2 triệu tấn hàng hoá mỗi năm.