Sáng tác - Doanh Trí

Tôi Viết

BÓNG CHIỀU <br>Tuyết Lan Lê

BÓNG CHIỀU
Tuyết Lan Lê

Chiều bóng ngả gió tây đùa man mác Song thưa cài hời hợt chẳng rèm buông Hoa lục tuần thắm đượm khúc trần gian Thương hạnh phúc nhuộm sắc màu nhân thế ! Phía chân trời chim đang tìm về tổ Mây bay bay nhàn nhạt ánh hoàng hôn Hạt sương chiều khe khẽ đến bên thềm Giọt nắng cuối đã tan vào thinh lặng. Chút suy tư trong buổi chiều thanh vắng Đếm thời gian qua năm tháng cuộc đời Thấy thương mình khi mái tóc phai phôi Mong cuộc sống bình yên...chiều bóng ngả...

TÂM SỰ CON CÓC <br>Nguyễn Thị Sơn

TÂM SỰ CON CÓC
Nguyễn Thị Sơn

Con cóc ngồi trong hang Con cóc nhảy ra vườn Con cóc nhìn trời xanh Con cóc nhảy vào hang Cuộc sống cóc giản đơn Bình an và tự tại Cũng có sinh có tử Có hang, có vào ra. Thành phố phát triển nhanh Ao, hang không còn nữa Cóc hết nhảy vào hang Cóc lết ra ngoài đường.

NỖI BUỒN CỦA CỌP <br>Nguyễn Thị Sơn

NỖI BUỒN CỦA CỌP
Nguyễn Thị Sơn

Rừng hoang vu, sâu thẳm. Cọp rảo bước oai phong. Trời xanh cao, gió mạnh Đất lún mỗi bàn chân. Từ trên cao hiểm trở, Cọp xoải mình nằm im Nghe âm thanh rừng núi. Cọp trỗi dậy gầm vang. Đàn hoẵng ở bìa rừng, Uống nước bên bờ suối Nghe tiếng gầm vang ra. Giật mình chạy thật xa... Thế mà... Một ngày kia con người Với súng đạn, hầm chông Cọp sa chân lỡ bước Nằm trong cũi về thành Cọp vẫn được người chăm, Vẫn nằm im nhìn ngắm Từng lượt người đến thăm. Thỉnh thoảng vẫn gầm vang...

CON RÙA VÀ CON THỎ <br> Nguyễn Thị Sơn

CON RÙA VÀ CON THỎ
Nguyễn Thị Sơn

Chuyện ngụ ngôn năm xưa Con Thỏ và con Rùa Cùng đi về một hướng Cùng dự một cuộc đua. Rùa bé nhỏ ngắn chân Chăm chú nhắm mục tiêu Không mơ màng mộng lớn Tới trước thật vinh quang. Thỏ tung tăng chạy nhanh Ngắm bầu trời thênh thang Chủ quan không nhắm đích Đến sau thật bẽ bàng. 22.11.2010

BÀI THƠ CON CUA <br>Nguyễn Thị Sơn

BÀI THƠ CON CUA
Nguyễn Thị Sơn

Điện thoại chợt reo vang Đầu dây con gái nói Hôm nay có sea food Con mời mẹ sang chơi. Hòa lẫn các món ăn Trong bữa trưa hoành tráng Con cua đỏ trên bàn Xếp càng vẫn hiên ngang. Mẹ chợt vẻ trầm ngâm Hình như còn trăn trở Đôi lúc thơ mẹ ngang Như con cua có càng Có vạn lời muốn ngỏ Cùng một kiếp nhân sinh Dù ngang, dù càng cứng Cũng có lúc nằm im.

BÀ U GIÀ TRUNG THÀNH - TS Nguyễn Thị Sơn

BÀ U GIÀ TRUNG THÀNH - TS Nguyễn Thị Sơn

Theo Hiệp định Geneve, Việt Nam chia thành hai vùng tập kết quân sự, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung tại miền Bắc, còn quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung tại miền Nam. Lấy vĩ tuyến 17, sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời. Lúc ấy dự định, đây là sự phân chia tạm thời, sẽ có một cuộc Tổng tuyển cử vào năm 1956 nhằm thống nhất hai miền dưới một chính phủ. Tập kết dân sự được diễn ra theo nguyên tắc tự nguyện.

ANH VỀ HỌC LẤY CHỮ NHU <br>Ca dao Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

ANH VỀ HỌC LẤY CHỮ NHU
Ca dao Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, Đèn Mỹ Tho khi tỏ khi lu. Anh về học lấy chữ nhu, Chín trăng em đợi mười thu em chờ. "Nhu" là thành phần biểu âm của chữ "nho". Nho là "học trò" tức "người cần dùng" (chữ "nho" gồm có chữ "nhân" và chữ "nhu"). Đạo nho là "đạo của người có học" (do thầy Khổng Tử sáng lập) nên người Việt mình quen gọi chữ Hán là chữ nho, thực ra là chữ thánh hiền (Nhất tự vi sư): Vốn là "Nhất tự vi sư", Ai thêm "bán tự vi sư" cho phiền? "Nhẫn" là "đao" khứa lên "tim", Đời ta một chữ thánh hiền chửa xong... Trong quyển "Ca dao - tục ngữ Việt Nam" (một giáo viên dạy văn đã cho chúng tôi mượn xem), tác giả Hoài Quỳnh có giải thích về câu ca dao "Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ..." nguyên văn như sau: "Người con gái mong muốn người con trai mình yêu thương nên cố gắng học hành (tức học chữ nho) để lập nên sự nghiệp sáng sủa giống như đèn Sài Gòn chứ nếu không sẽ bị lu mờ như đèn Mỹ Tho, dù có phải chờ đợi chín hay mười năm cô ấy cũng cam lòng..." Lời giải thích trên theo chúng tôi không chính xác vì vào cái thời "đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ", chữ nho đang bị thất thế làm sao giúp chàng "lập nên sự nghiệp" được? Trái lại, những người muốn đi làm cho Pháp ở Sài Gòn thời Pháp thuộc đều phải thông thạo chữ quốc ngữ. Tác giả câu ca dao này có lẽ là một nhà nho yêu nước đã mượn lời người con gái khuyên chàng trai nên từ bỏ "sự nghiệp" giúp việc cho Tây, thà trở về quê sống tuy nghèo khó mà giữ được đạo nhà (đạo nho, đạo trung quân ái quốc). Câu ca dao "Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ... " được sáng tác theo cả ba thể: Phú (Nói thẳng), Tỉ (So sánh) và Hứng (Nổi cảm xúc lên)...

BÀ TRIỆU (225 - 248) <br>Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

BÀ TRIỆU (225 - 248)
Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Nhà Hán sau khi chiếm được Nam Việt của Triệu Ai Vương liền đổi nước ta thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận trong đó có quận Giao Chỉ chiếm cả vùng Bắc bộ ngày nay (Cửu Chân và Nhật Nam thuộc bắc Trung bộ). Các quận còn lại thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam. Đứng đầu "bộ" là Thứ sử, đứng đầu "quận" là Thái thú. Đến năm 202 theo đề nghị của Sĩ Nhiếp, nhà Đông Ngô mới đổi tên Giao Chỉ bộ thành Giao Châu để khỏi lẫn với Giao Chỉ quận. Để có đủ lực đánh nhau với Tào Tháo (nước Ngụy) và Lưu Bị (nước Thục), Đông Ngô của Tôn Quyền bóc lột dân ta tàn ác nhất trong số các triều đại Trung Quốc thời Bắc thuộc đến nỗi sau này dân ta luôn lấy tên Ngô đặt cho mọi loại giặc dữ ở phương Bắc ("Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng" hay "Cáo Bình Ngô" v. v...). Chúng hung dữ lắm thay! Vậy mà: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, Đạp làn sóng dữ, Chém cá kình ở biển Đông, Giải phóng non sông khỏi bọn giặc nước, Chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho ai cả!” Người nói câu này là một cô gái rất đẹp ở tuổi đôi mươi tên là Triệu Thị Trinh (225 - 248) được cả quân ta và quân địch tặng danh hiệu là “Nhụy Kiều Tướng Quân” tức vị tướng yêu kiều. Thơ ca dân gian có câu: “Ru con, con ngủ cho lành, Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi. Muốn coi lên núi mà coi, Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.” Lũ trẻ cũng có bài đồng dao: “Có bà Triệu tướng, Vâng lệnh Trời ra. Trị voi một ngà, Dựng cờ mở nước. Lệnh truyền sau trước, Theo bước bà vương.” Trai tráng cả nước nô nức tham gia hàng ngũ nghĩa quân. Năm 245, Triệu Thị Trinh khởi nghĩa tại huyện Cửu Chân. Quân ta ồ ạt tấn công khắp các huyện thành khiến quân Ngô vỡ chạy hoặc bị tiêu diệt. Bình định xong Cửu Chân, bà Triệu tiến đánh Giao Chỉ quận. Cả một vùng Giao Châu được giải phóng. Thứ sử Giao Châu bị bắt và bị xử tử. Giang Đông bị rúng động. Vua Ngô là Tôn Quyền phải sai cháu của Lục Tốn (danh tướng thời Tam Quốc) là Lục Dận sang đánh bà Triệu và làm thứ sử Giao Châu. Lục Dận đã gây ô nhiễm tất cả các sông, suối ở nước ta bằng chất ô uế và xác động vật ("chiêu" này ngày nay còn có kẻ muốn dùng chăng?). Thế giặc rất mạnh. Quân ta bị thiếu lương thực và bị “ngộ độc thực phẩm” rất nhiều nên phải lui về núi Tùng ở Thanh Hóa sau hàng chục trận đánh. Bị bao vây không thể thoát, bà Triệu đã rút gươm tự sát trên đỉnh núi Tùng để không bị rơi vào tay quân giặc vào buổi chiều ngày 21 tháng 2 năm 248 khi mới 23 tuổi...

CỜ VIỆT NAM <br> Nguyễn Đình Đại

CỜ VIỆT NAM
Nguyễn Đình Đại

Hầu hết cờ quốc gia trên thế giới đều có kích thước "dài gấp rưỡi rộng" để dễ ghi hình 6 x 9 nhưng với Việt Nam, kích thước ấy còn có thêm một ý nghĩa nữa: "Dọc ngang phải tính, Cho ảnh sáu - chín. Sáu chín năm tư, Số dân tộc chính!" Tiện quá phải không ạ? Theo lời tác giả của Cờ Việt Nam (Nguyễn Hữu Tiến 1901 - 1941) "Hỡi những ai cùng máu đỏ da vàng, Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc. Nền cờ đỏ thắm máu đào vì nước, Sao vàng tươi như da của giống nòi. Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh nước ta ơi, Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh!" "Máu đỏ da vàng" là màu Cờ Việt Nam. 5 cánh sao tượng trưng cho 5 "trụ cột" của cả nước: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh. Lấy giao điểm hai đường chéo của lá cờ làm tâm vẽ vòng tròn có bán kính bằng 1 / 5 chiều dài lá cờ, ta được vòng tròn đi qua 5 đỉnh của ngôi sao trên... Nguyễn Hữu Tiến hy sinh vào tháng Tám năm 1941 (bị Pháp xử bắn), chưa kịp nhìn thấy cờ đỏ sao vàng tung bay lần đầu tiên vào ngày 23 tháng 11 năm 1941. Quốc dân đại hội Tân Trào tại Tuyên Quang ngày 16 / 8 / 1945 đã chính thức chọn cờ đỏ sao vàng là Cờ Việt Nam.

ĐỘC TIỂU THANH KÝ  <br>Thơ: Nguyễn Du Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

ĐỘC TIỂU THANH KÝ
Thơ: Nguyễn Du Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Trên đây là một bài thơ "Đường luật thất niêm" của Nguyễn Du từng bị cho là "ngụy tác" bởi "Nguyễn Du đã từng đánh hỏng bao nhiêu sĩ tử vì lỗi làm thơ thất niêm thất luật không lẽ gì chính mình lại vi phạm lỗi ấy..." (Nguyễn Cẩm Xuyên, báo KTNN số 896). Vâng, đó là bài thơ Đường thất ngôn bát cú (TNBC) "luật bằng" vì chữ thứ hai trong câu đầu (Hồ) dùng thanh bằng nên chữ thứ hai câu chót cũng phải là bằng chứ không thể là trắc (hạ) được. Nhưng Bác Bảo Vệ lại cho đây là "lỗi cố tình" của Nguyễn Du... Sáu câu trên của bài thơ này hoàn toàn giữ đúng niêm luật của một bài thơ Đường TNBC. Cặp câu Đề giới thiệu cảnh vật tang thương biến đổi tột cùng ("tẫn" là "tột cùng") sau hai thế kỷ từ Tiểu Thanh đến Nguyễn Du, vườn hoa xưa nay chỉ còn là bãi hoang tàn: Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Ngoài song trông vào khách viếng chỉ được đọc một mảnh tình thơ sót lại (bị người vợ cả của chồng nàng ghen ghét nên đốt hết) của nàng Tiểu Thanh (sinh năm 1594 và mất năm 1612 khi mới vừa 18 tuổi) được người đời sau lưu giữ để thương tiếc một bậc tài hoa bạc mệnh. Cặp câu Thực tả về miếu thờ trang nghêm có cả di ảnh "chi phấn hữu thần" và mảnh thơ sầu thảm ấy (lụy phần dư): Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Cặp câu Luận nói về tâm trạng Nguyễn Du đang tự mang (ngã tự cư) "hận sự" giống như nàng: Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Căp câu Kết "phá cách" (thất niêm) bởi đột nhiên Nguyễn Du thảng thốt nói về mình và chỉ có... xót thương mình: Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Có nghĩa là: Chẳng biết ba trăm năm nữa thiên hạ có ai khóc Tố Như (tức Nguyễn Du) không? Quý vị nghĩ sao nếu cặp câu kết này được Nguyễn Du viết... đúng niêm luật bài thơ Đường? Nguyễn Du cho điều đó không chỉ "vô duyên" mà còn làm hỏng bố cục của bài thơ nên đã quyết định "phá cách" riêng hai câu kết. Và quả thật chính hai câu kết này đã trở thành bất hủ như Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tóm lại Độc Tiểu Thanh Ký là của Nguyễn Du viết chứ không ai khác và cũng không có chuyện "tam sao thất bổn" ở đây...

Duy Tan Tuyen Sinh 2019