Sáng tác - Doanh Trí

Tôi Viết

THÚY KIỀU VÀ TỪ HẢI <br>Thơ: Nguyễn Du Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

THÚY KIỀU VÀ TỪ HẢI
Thơ: Nguyễn Du Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Từ Hải là nhân vật "đàn ông" nhất của Truyện Kiều. Một là, chàng có tướng mạo oai phong: Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài. Hai là, chàng không thèm chấp nhất với kẻ tiểu nhân: Phong trần mài một lưỡi gươm, Những phường giá áo túi cơm sá gì. Mài một lưỡi gươm đâu phải để chém loại người vô tích sự (chúng chỉ như cái "giá" mang áo hay cái "túi" chứa cơm thôi mà). Ba là, chàng có sự nghiệp phi thường: Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà. Bốn là (điều này quan trọng nhất), chàng biết tin yêu một người phụ nữ: Từ rằng ân oán hai bên, Mặc nàng xử quyết, báo đền cho minh. Cho dù, vì tin yêu người phụ nữ này (Thúy Kiều) nên Từ Hải mới chết. Số là: Có quan tổng đốc trọng thần, Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài... Người này được cử đi đánh Từ Hải nhưng sợ đánh... không lại nên dùng mưu: Đóng quân làm chước chiêu an, Ngọc vàng, gấm vóc sai quan thuyết hàng. Vì ông ta biết được điểm yếu của Thúy Kiều: Nàng thì thật dạ tin người, Lễ nhiều, nói ngọt nghe lời dễ xiêu... Hơn nữa, gia đình nàng lại đang sống tại "nửa sơn hà" thuộc về Triều đình nên gã Hồ này dễ "đánh" vào nỗi nhớ nhà của nàng: "Cũng ngôi mệnh phụ đường đường, Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha. Trên vì nước, dưới vì nhà, Một là đắc hiếu hai là đắc trung. Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng, E dè sóng gió, hãi hùng cỏ hoa... " Quả nhiên, Thúy Kiều bị "dụ": Nhân khi bàn bạc gần xa, Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào. Từ Hải lúc đầu phản bác lại bằng những câu chí lý: "Bó thân về với Triều đình, Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu? Áo xiêm ràng buộc lấy nhau, Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? Sao bằng riêng một biên thùy, Sức này đã dễ làm gì được nhau?" Nhưng Thúy Kiều "lý sự" không kém: "Ngẫm từ đấy việc binh đao, Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu. Làm chi để tiếng về sau, Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào... " Thực ra lời nàng phân tích cũng không hợp lý lắm đâu nhưng chính "giọng nói" của nàng mới "dễ chết" đối với Từ: Nghe lời nàng nói mặn mà, Thế công Từ mới trở ra thế... hàng! Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng, Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đàng giải binh. Và đây là kết cuộc cho người đàn ông chung tình: Từ công hờ hững biết đâu, Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên. Hồ công ám hiệu trận tiền, Ba bề phát súng bốn bên kéo cờ. Đang khi bất ý chẳng ngờ, Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn. Nhưng Từ Hải vẫn là Từ Hải: Tử sinh liều giữa trận tiền, Dạn dày cho biết gan liền tướng quân. Một cái chết đẹp, rất kiêu hùng của một chiến binh: Khí thiêng khi đã về thần, Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng. Trơ như đá, vững như đồng, Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng dời. Nỗi oan của chàng chỉ có nàng giải được, chứng tỏ chàng vẫn chỉ tin và chỉ yêu nàng kể cả sau khi đã "về thần" vì nàng: Trong vòng tên đá bời bời, Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ. Kiều rằng: "Trí dũng có thừa, Bởi nghe lời thiếp nên cơ sự này. Mặt nào trông thấy nhau đây, Thà liều sống thác một ngày với nhau... " Dòng thu như xối cơn sầu, Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên. Lạ thay oan khí tương triền, Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra... Từ Hải chết vì lòng tin yêu chung thủy đối với một hồng nhan tri kỷ âu cũng là cách chết... đẹp. Thử hỏi mấy ai dám sống như Từ Hải để rồi chết như Từ Hải?

HÙNG KÊ QUYỀN  <br> Thơ: Nguyễn Lữ (1754 – 1787) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

HÙNG KÊ QUYỀN
Thơ: Nguyễn Lữ (1754 – 1787) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Lưỡng kê giao thủ thị tranh hùng, Song túc tề phi trảo thượng xung. Trấn ải kim thương như bạch hổ, Thủ quan ngân kiếm tợ thanh long. Xuyên hầu độc tiễn tàng ư trác, Hồi thủ đơn câu thọ tự hung. Khiêu, tẩu, dược, trầm thiên sở tứ Nhu, cương, cường, nhược tận kỳ trung. Tám câu trên không phải là bài “thiệu” (bài giới thiệu các chiêu thức) mà là bài "tổng quan về Hùng Kê Quyền", nhiều người hiểu lầm nên đã diễn giải chưa thật đúng bài quyền này. Bài Hùng Kê Quyền được viết theo thể Đường luật - thất ngôn bát cú rất hấp dẫn người đọc với niêm, đối đủ cả đã chứng minh Tổ sư Nguyễn Lữ quả là một bậc văn võ song toàn. Cặp câu Đề giới thiệu hai chú gà chọi không chỉ đá rất hăng (tề phi trảo thượng xung) mà còn biết dè chừng nhau (thị tranh hùng) nữa: Lưỡng kê giao thủ thị tranh hùng, Song túc tề phi trảo thượng xung. Cặp câu Thực bàn về thế thủ. Hai cánh gà xòe ra che chở cho toàn thân như thương vàng hay kiếm bạc, như bạch hổ hoặc thanh long: Trấn ải kim thương như bạch hổ, Thủ quan ngân kiếm tợ thanh long. Cặp câu Luận bàn về thế công. Chú gà chọi khi thì đòn "giấu từ mỏ" (tàng ư trác) đánh sâu vào yết hầu (xuyên hầu) đối phương như một mũi tên độc, khi thì chợt xoay mình đá vào ức đối thủ ("hung" là "ngực", "thọ tự hung" là "nhận nơi ngực"): Xuyên hầu độc tiễn tàng ư trác, Hồi thủ đơn câu thọ tự hung. Cặp câu Kết nói về đặc điểm hay sở trường chỉ riêng Hùng Kê Quyền mới có như "trời ban cho mình" (thiên sở tứ) vậy. Chạy nhảy (khiêu tẩu) và luồn lách (dược trầm), cương và nhu đều có đủ cả trong Hùng Kê Quyền: Khiêu, tẩu, dược, trầm thiên sở tứ Nhu, cương, cường, nhược tận kỳ trung. Theo Bác Bảo Vệ NĐĐ, cầu thủ bóng đá Việt Nam (vốn nhỏ con, hợp với lối chơi mềm mại) nên tập Hùng Kê Quyền và BBV xin được đặt tên "quốc tế" cho võ này là FUJUDO!

MƯA RÀO MÙA ĐÔNG <br>  Thơ tự do: Nho Đoàn Chuyển thể "hát nói": Nguyễn Đình Đại

MƯA RÀO MÙA ĐÔNG
Thơ tự do: Nho Đoàn Chuyển thể "hát nói": Nguyễn Đình Đại

Mưa rào giữa đêm đông giá buốt, Khiến cho ta thức suốt canh tràng. Mưa rất to và sấm cũng rền vang, Người đã khổ, trời đành "ban" nghịch cảnh. Than trời chẳng để mưa hờn bớt, Trách đất sao cho lũ xói mòn. Gia cầm nuôi chết cả mấy ngàn con, Nơi sơn cước trẻ còn không áo ấm. Ruộng lúa nương rau công bao người chăm bẵm, Đợt lạnh về mấy bận hóa thành không. Tết còn chi để ngóng trông? Lời bàn Hát nói là một thể phối hợp thơ và nhạc rất thịnh hành vào thế kỷ XIX, còn được gọi là "hát ả đào" hay "hát cô đầu". Nó có vẻ như một biến thể của thơ song thất lục bát với số chữ trong câu được "tự do" hơn. Trên là một bài hát nói "đủ khổ" tức có đủ 3 khổ và gồm 11 câu (không kể các cặp câu lục bát có thể xuất hiện ở đầu bài hay trước câu chót được gọi là "mưỡu"). Khổ đầu có 4 câu gồm 2 câu "lá đầu" và 2 câu "xuyên thưa" (ba phách được giữ khoan thai vào đầu câu thứ tư) tả nguyên nhân khiến Tác giả (một vị thượng tá đã về hưu) phải canh khuya thao thức: Mưa rào giữa đêm đông giá buốt, Khiến cho ta thức suốt canh tràng. Mưa rất to và sấm cũng rền vang, Người đã khổ, trời đành "ban" nghịch cảnh. Khổ giữa gồm 4 câu trong đó có một cặp câu đối (ngũ ngôn hoặc thất ngôn) được gọi là "thơ": Than trời chẳng để mưa hờn bớt, Trách đất sao cho lũ xói mòn. Và hai câu "xuyên mau" (ba phách được đánh gấp vào đầu câu thứ tám): Gia cầm nuôi chết cả mấy ngàn con, Nơi sơn cước trẻ còn không áo ấm. Ông thao thức vì quen nghĩ đến những người nông dân nghèo khổ sống quanh vùng, họ sẽ ra sao khi phải hứng chịu thêm nghịch cảnh? Khổ xếp gồm 3 câu (câu dồn, câu xếp và câu keo trong đó câu keo luôn là câu 6 chữ) tả nỗi xót xa và cũng là nỗi lo ghê gớm của Tác giả khi ngày tết cổ truyền sắp đến: Ruộng lúa nương rau công bao người chăm bẵm, Đợt lạnh về mấy bận hóa thành không. Tết còn chi để ngóng trông? Nguyễn Đình Đại

MỜI BẠN UỐNG TRÀ  <br> Tuyết Lan Lê

MỜI BẠN UỐNG TRÀ
Tuyết Lan Lê

Trà thơm mời bạn uống cùng Niềm vui chia sẻ, hoà chung câu cười Tiếng chiều đang nhẹ nhẹ trôi Bồng bềnh mây trắng lưng trời bay bay ! Trà thơm nâng chén trên tay Để nghe niềm nhớ những ngày xa xưa Chiều nghiêng, bóng ngả, gió đùa Hoàng hôn thấp thoáng... rèm thưa... nắng mờ... Để lòng một chút ngẩn ngơ Tưởng mình đang lúc tuổi vừa đôi mươi... Trà thơm nâng chén bạn ơi Cười vang cái lúc mơ hồi trẻ thơ. Đèn chiều khi tỏ khi mờ Hạt sương chiều đã chực chờ rơi rơi Ơn đời còn có hôm nay Trà thơm nâng chén, bạn ơi, nhớ hoài ! Lê Tuyết Lan

MÙA BỘI THU <br>Tống Thu Ngân

MÙA BỘI THU
Tống Thu Ngân

Vàng mơ lúa đã chín rồi Xinh xinh em cười con mắt có đuôi Lúa vàng ngập cả bờ vui Nắng reo trong gió ngọt bùi môi ngoan Em cười rộn rã mùa vàng Trời xanh, mây trắng rộn ràng bước chân Mùa thu nắng cũng trong ngần Theo em từng gót chân trần mơn man Tay ôm, ôm cả mùa vàng Mật đời hòa với hoa vàng, cỏ xanh Em cười con mắt long lanh Đất trời vào vụ mầm xanh trổ cờ Nhân gian dẫu có thờ ơ Cũng cười tươi đón mặt trời bình minh Em cười, cười nụ thật xinh Mùa vàng óng ả, nụ tình đơm hoa Em cười, cười nụ mặn mà Gom về tất cả mùa hoa ửng vàng Dang tay ôm cả thế gian Thắm tình nhân loại biển tràn yêu thương... TỐNG THU NGÂN

HÌNH NHƯ THU ĐÃ VỀ  <br>Tuyết Hạnh Phạm

HÌNH NHƯ THU ĐÃ VỀ
Tuyết Hạnh Phạm

Hình như Thu rồi anh ạ sớm nay sương trắng giăng đầy long lanh trên từng phiến lá đưa tay em với được mây. Hình như Thu rồi anh ạ phố cao lất phất mưa hoài mặt trời đương còn ngái ngủ Cúc vàng chưa chịu tỏa hương. Hình như thu rồi anh ạ lá xanh chuyển nửa úa vàng nhưng chưa rơi đầy hiên vắng bởi còn theo gió lang thang. Hình như thu rồi anh ạ em nghe nhung nhớ dâng trào đêm tương tư mùi hoa sữa giăng hồn một nỗi xuyến xao. Dã Quỳ

ĐÃ SANG THU RỒI SAO <br> Nho Đoàn

ĐÃ SANG THU RỒI SAO
Nho Đoàn

Chiều tháng tám ráng vàng rồi em ạ. Nhưng sao mà nóng như thể tháng năm. Trăng đã trong với đêm ấy đêm rằm. Chỉ cơn gió không heo may như thu trước. Dòng sông quê vẫn đầy vơi con nước. Sao giờ sông chẳng đỏ nặng phù sa. Tháng tám ơi vẫn thu đó thôi mà. Nhưng lá chẳng vàng giống như là mùa trước. Thu đã sang tìm mưa Ngâu không được. Nước trút ào ào phố ngập chẳng thể qua. Chỉ gửi nhớ đi một chút thôi mà. Ở nơi xa hỏi bạn mình có nhận. Hay bởi mưa giăng nỗi buồn ma trận. Thác đổ lũ dâng ngăn cả mùa thu. Biết phương xa rừng thẳm mây mù. Bởi tình thương hỏi rằng ai có đợi. Dòng sông quê trăng chiều buồn vời vợi. Núi cao ơi... nhớ nào để núi non. Đoàn Nho

NÀNG THƠ THÁNG TÁM  <br>Sedona Thùy Trang

NÀNG THƠ THÁNG TÁM
Sedona Thùy Trang

Tháng Tám, tháng của mộng mơ Tháng của nàng Thơ... của lá thu vàng Tháng mơ mộng... nhiều lãng mạn Tháng bàng hoàng... tháng xao xuyến tim tôi Yêu Tháng Tám… yêu lá rơi… Yêu những bồi hồi… rung cảm trong tim Nhớ nắng mùa Thu chợt tím Nàng Thơ lim dim… nhẹ bước vào đời... Một ngày nắng sớm thu ơi Rộn ràng vui với nụ cười nàng Thơ Ấy mà bỗng chốc ngu ngơ Thơ ơi thơ hỡi thơ chờ tôi chăng? Sedona Thùy Trang 30. 7. 2019

ĐỢI THU <br> Nguyễn Thị Thắm

ĐỢI THU
Nguyễn Thị Thắm

Thu chưa về chỉ thấy bão ngang qua Mưa rả rích rơi ướt mèm lối ngõ Ai kéo bầu trời khum hình gọng vó Mây trắng một màu mù mịt hơi sương. Hạ đi rồi không còn chút tơ vương Hoa phượng tàn từ khi nào chẳng rõ Lũ ve giang hồ quên về quán trọ Áo khoác rách tươm vương lại trên cành. Bao nhiêu ngày cái nắng cứ đành hanh Ai đợi bão đâu mà mày lại đến Hãy tan nhanh cho nàng Thu yêu mến Mau trở về tô thắm khoảng trời mơ! 1 - 8 - 2019

ĐÊM THÔN QUÊ <br> Nguyễn Quang Liên

ĐÊM THÔN QUÊ
Nguyễn Quang Liên

Càng về khuya, nỗi nhọc nhằn tan biến Thỉnh thoảng nghe vài ba tiếng chim kêu Đêm thôn quê, bao lầm lũi sớm chiều Đang thảnh thơi, sau ngày nhiều bận rộn. Dân quê tôi, nắng phơi lưng trên ruộng Da sạm đen, áo ướt sũng mồ hôi Cũng chẳng có nghề buôn bán ngược xuôi Thu hoạch xong, lại quay người làm mạ. Thật yên tĩnh, đêm vùng quê dân dã Đắm chìm trong những vất vả, khát khao Cơn gió đung đưa, cây lá xạc xào Trên trời cao, ánh trăng sao tỏa mát. Từ sâu thẳm, mùi ngái nồng của đất Quyện lẫn hương cau, ngan ngát ngọt ngào Nghe tiếng ếch nhái kêu góc bờ ao Đêm thanh vắng, dâng trào niềm thương nhớ./. Nguyễn Quang Liên 01.8.2019

Duy Tan Tuyen Sinh 2019