TÂY TIẾN Thơ: Quang Dũng (1921 – 1988) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV) - Doanh Trí

TÂY TIẾN Thơ: Quang Dũng (1921 – 1988)
Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Khèn lên man điệu nàng e ấp,
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc,
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc.
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu anh về đất,

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Tây Tiến người đi không hẹn ước,
Đường lên thăm thẳm một chia phôi.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Bác Bảo Vệ xin thử bình bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của Quang Dũng theo hướng "tích hợp văn - sử - địa lớp 12" như sau:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi,
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi...”

Tiếng "rồi" như tiếng thở dài vĩnh biệt, tiếng "ơi" nghe thân thương làm sao. Còn "nhớ chơi vơi" là nhớ không cùng, không biết tựa vào đâu cho vơi nỗi nhớ.

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”

Về đêm, đất đá bốc hơi lạnh nên "đêm hơi" là đêm rất lạnh.

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây súng ngửi trời.
Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi... ”

Trên đây mô tả vị trí đóng quân của Tây Tiến: bản Sài Khao thuộc xã Mường Lý, huyện Mường Lát tỉnh Thanh Hoá (Nơi đây ngày nay có Nhà Bảo tàng Tây Tiến lưu giữ những kỷ vật bộ đội để lại).

Vị trí này ở độ cao 1070 mét như Quang Dũng mô tả (nghìn thước lên cao...) và từ đây nhìn về phía Mộc Châu thấy núi Pha Luông cao gần 2.000 mét so với mặt nước biển.

Độ cao nơi Quang Dũng đóng quân cũng tương đương với độ cao của Đà Lạt nhưng không có nghĩa bộ đội Tây Tiến phải là những "vận động viên leo núi" hiểm trở đến độ "gục chết" khi lên đến nơi như nhiều người đã bi thảm hoá hai câu tiếp theo:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời...”

"Không bước nữa" là vì đến nơi rồi chứ không phải là "bỏ cuộc" và… "đứt bóng". Cái chết trong thơ Quang Dũng không "bi thảm" như vậy. "Chết" vì... hành quân mỏi oai nỗi gì?

Bố cục bài thơ rất chặt chẽ, "cái chết" sẽ được Quang Dũng nhắc đến ở khổ thơ thứ ba: bi tráng.

"Bỏ quên đời" phải được hiểu là "ngủ như chết" (vì "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi") theo đúng phong cách bất cần đời của mấy anh thanh niên trí thức Hà Nội (chiếm đa số trong bộ đội Tây Tiến, mới qua huấn luyện kiểu... quân sự học đường!)

Họ ngủ... cho đã, mặc kệ tiếng thác reo hay cọp gầm đâu đó:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người... ”

Để chỉ còn:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, 
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi... ”

Tất nhiên đi từ Hà Nội lên Mường Lát phải qua Mai Châu, nơi đồng bào Thái trồng lúa nếp thay cho lúa gạo.

Đến đây là hết khổ thơ thứ nhất nói về cuộc hành quân gian khổ lên đến vị trí đóng quân của lính Tây Tiến.

Trước khi Pháp mở cuộc tổng tấn công ra Việt Bắc vào tháng 10 năm 1947 (Việt Bắc Thu - Đông) nhằm tiêu diệt chính phủ và quân chủ lực của ta, tình hình mặt trận phía Tây khá căng thẳng (vì ta lo địch xâm nhập từ phía biên giới Việt - Lào).

Sinh hoạt văn hoá, chính trị luôn được chú trọng để thắt chặt tình quân dân (nhân tố góp phần mang lại mọi thắng lợi của quân đội ta):

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Khèn lên man điệu nàng e ấp,
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ... ”

Những buổi đi lên Mộc Châu để trình báo cáo và nhận chỉ thị với giao liên chính phủ, Quang Dũng được dịp làm thơ hay vẽ tranh:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.
Có nhớ dáng người trên độc mộc,
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa...”

Đến đây là hết khổ thơ thứ hai nói về phần “sinh hoạt chính trị” rất quan trọng của binh đoàn Tây Tiến.

Chỉ trong vòng có vài tháng từ những chàng trai "gục lên súng mũ bỏ quên đời", bộ đội Tây Tiến ngày nay đã trưởng thành vượt bậc thậm chí là "quá ngầu":

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm...”

Không mọc tóc do bệnh sốt rét gây rụng tóc hay tự cạo trọc đầu để khi vật nhau với địch không bị nắm tóc? Có lẽ cả hai.

Tương tự như vậy, quân xanh màu lá có thể do nguỵ trang hoặc do mắc bệnh sốt rét khiến da xanh xao.

Nhiệm vụ của lính Tây Tiến là canh chừng biên giới phía Tây Bắc nhất là vào ban đêm.

Khi canh gác phải hết sức tập trung, nhìn sâu trong bóng tối đề phòng kẻ địch lẻn ra phía sau lưng:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới...”

Bộ đội biên phòng có khác! Nhưng khi hết phiên gác thì cái chất lãng mạn của con trai Hà thành lại trở về nguyên vẹn:

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm... ”

Những cô gái xinh đẹp ấy hiện ở đâu bây giờ khi Hà Nội đang bị địch tạm chiếm, cũng như những người chiến sĩ vô danh đang nằm lại ở đây bao giờ thân xác mới được quy cố hương?

Không ai dám trả lời chắc chắn vào thời gian đó, bởi bảy năm sau họ mới được trở về theo chân đoàn quân giải phóng thủ đô.

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành..."

Những từ Hán - Việt đột nhiên xuất hiện gợi cho tôi hình ảnh một buổi chiều xa xưa bên bờ sông Dịch, chàng thích khách Kinh Kha đứng trên thuyền đưa tay vẫy chào một đi không trở lại.

Trên bờ bên này, đàn nữ nhạc mặc y phục toàn màu trắng gảy khúc biệt ly.

Nơi đây không có tiếng đàn nức nở nhưng có con sông Mã đổ từ cao nguyên Mộc Châu đi qua Sầm Nứa gầm lên khúc độc hành, đưa anh về đất với áo bào thay chiếu...

Sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông, Tây Tiến trở về Hoà Bình tham gia thành lập trung đoàn 52 và Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác.

Cuối năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh (Hà Đông), Quang Dũng sáng tác bài thơ này và đặt tên là Nhớ Tây Tiến (sau đổi là Tây Tiến).

Bài thơ lay động lòng người, nó lập tức lan toả. Có thể nói trong ba lô của mỗi người lính sau này đều có bài thơ Tây Tiến.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước,
Đường lên thăm thẳm một chia phôi.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi...”

Bốn câu kết (khổ cuối) cho thấy Tây Tiến giờ đây tuy xa mà gần, bởi nó nằm mãi trong trái tim của người lính Tây Tiến.

PS:

Quang Dũng (tên thật là Bùi Đình Diệm, tự Dậu) sinh năm 1921 tại Hà Tây và mất năm 1988 tại Hà Nội, chỉ thọ được 67 tuổi.

Sinh thời ông chịu nhiều thiệt thòi, nhưng thật thà như đếm nên chẳng biết trách ai.

Quang Dũng cao lớn và giỏi võ, biết đủ cả cầm - kỳ - thi - hoạ nhưng ai trêu ghẹo cũng đành chịu. Nội việc một nhạc sĩ trong Nam sáng tác ca khúc phổ thơ Quang Dũng cũng khiến ông "khổ sở" một thời gian dài.

Tác phẩm tiêu biểu: Mây Đầu Ô, Tuyển Tập Thơ Quang Dũng...

Năm 2001 (13 năm sau khi Quang Dũng qua đời), ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học và Nghệ thuật.

Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Duy Tan Tuyen Sinh 2019

Tin liên quan

ANH VỀ HỌC LẤY CHỮ NHU <br>Ca dao Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

ANH VỀ HỌC LẤY CHỮ NHU
Ca dao Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, Đèn Mỹ Tho khi tỏ khi lu. Anh về học lấy chữ nhu, Chín trăng em đợi mười thu em chờ. "Nhu" là thành phần biểu âm của chữ "nho". Nho là "học trò" tức "người cần dùng" (chữ "nho" gồm có chữ "nhân" và chữ "nhu"). Đạo nho là "đạo của người có học" (do thầy Khổng Tử sáng lập) nên người Việt mình quen gọi chữ Hán là chữ nho, thực ra là chữ thánh hiền (Nhất tự vi sư): Vốn là "Nhất tự vi sư", Ai thêm "bán tự vi sư" cho phiền? "Nhẫn" là "đao" khứa lên "tim", Đời ta một chữ thánh hiền chửa xong... Trong quyển "Ca dao - tục ngữ Việt Nam" (một giáo viên dạy văn đã cho chúng tôi mượn xem), tác giả Hoài Quỳnh có giải thích về câu ca dao "Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ..." nguyên văn như sau: "Người con gái mong muốn người con trai mình yêu thương nên cố gắng học hành (tức học chữ nho) để lập nên sự nghiệp sáng sủa giống như đèn Sài Gòn chứ nếu không sẽ bị lu mờ như đèn Mỹ Tho, dù có phải chờ đợi chín hay mười năm cô ấy cũng cam lòng..." Lời giải thích trên theo chúng tôi không chính xác vì vào cái thời "đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ", chữ nho đang bị thất thế làm sao giúp chàng "lập nên sự nghiệp" được? Trái lại, những người muốn đi làm cho Pháp ở Sài Gòn thời Pháp thuộc đều phải thông thạo chữ quốc ngữ. Tác giả câu ca dao này có lẽ là một nhà nho yêu nước đã mượn lời người con gái khuyên chàng trai nên từ bỏ "sự nghiệp" giúp việc cho Tây, thà trở về quê sống tuy nghèo khó mà giữ được đạo nhà (đạo nho, đạo trung quân ái quốc). Câu ca dao "Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ... " được sáng tác theo cả ba thể: Phú (Nói thẳng), Tỉ (So sánh) và Hứng (Nổi cảm xúc lên)...

BÀ TRIỆU (225 - 248) <br>Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

BÀ TRIỆU (225 - 248)
Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Nhà Hán sau khi chiếm được Nam Việt của Triệu Ai Vương liền đổi nước ta thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận trong đó có quận Giao Chỉ chiếm cả vùng Bắc bộ ngày nay (Cửu Chân và Nhật Nam thuộc bắc Trung bộ). Các quận còn lại thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam. Đứng đầu "bộ" là Thứ sử, đứng đầu "quận" là Thái thú. Đến năm 202 theo đề nghị của Sĩ Nhiếp, nhà Đông Ngô mới đổi tên Giao Chỉ bộ thành Giao Châu để khỏi lẫn với Giao Chỉ quận. Để có đủ lực đánh nhau với Tào Tháo (nước Ngụy) và Lưu Bị (nước Thục), Đông Ngô của Tôn Quyền bóc lột dân ta tàn ác nhất trong số các triều đại Trung Quốc thời Bắc thuộc đến nỗi sau này dân ta luôn lấy tên Ngô đặt cho mọi loại giặc dữ ở phương Bắc ("Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng" hay "Cáo Bình Ngô" v. v...). Chúng hung dữ lắm thay! Vậy mà: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, Đạp làn sóng dữ, Chém cá kình ở biển Đông, Giải phóng non sông khỏi bọn giặc nước, Chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho ai cả!” Người nói câu này là một cô gái rất đẹp ở tuổi đôi mươi tên là Triệu Thị Trinh (225 - 248) được cả quân ta và quân địch tặng danh hiệu là “Nhụy Kiều Tướng Quân” tức vị tướng yêu kiều. Thơ ca dân gian có câu: “Ru con, con ngủ cho lành, Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi. Muốn coi lên núi mà coi, Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.” Lũ trẻ cũng có bài đồng dao: “Có bà Triệu tướng, Vâng lệnh Trời ra. Trị voi một ngà, Dựng cờ mở nước. Lệnh truyền sau trước, Theo bước bà vương.” Trai tráng cả nước nô nức tham gia hàng ngũ nghĩa quân. Năm 245, Triệu Thị Trinh khởi nghĩa tại huyện Cửu Chân. Quân ta ồ ạt tấn công khắp các huyện thành khiến quân Ngô vỡ chạy hoặc bị tiêu diệt. Bình định xong Cửu Chân, bà Triệu tiến đánh Giao Chỉ quận. Cả một vùng Giao Châu được giải phóng. Thứ sử Giao Châu bị bắt và bị xử tử. Giang Đông bị rúng động. Vua Ngô là Tôn Quyền phải sai cháu của Lục Tốn (danh tướng thời Tam Quốc) là Lục Dận sang đánh bà Triệu và làm thứ sử Giao Châu. Lục Dận đã gây ô nhiễm tất cả các sông, suối ở nước ta bằng chất ô uế và xác động vật ("chiêu" này ngày nay còn có kẻ muốn dùng chăng?). Thế giặc rất mạnh. Quân ta bị thiếu lương thực và bị “ngộ độc thực phẩm” rất nhiều nên phải lui về núi Tùng ở Thanh Hóa sau hàng chục trận đánh. Bị bao vây không thể thoát, bà Triệu đã rút gươm tự sát trên đỉnh núi Tùng để không bị rơi vào tay quân giặc vào buổi chiều ngày 21 tháng 2 năm 248 khi mới 23 tuổi...

CỜ VIỆT NAM <br> Nguyễn Đình Đại

CỜ VIỆT NAM
Nguyễn Đình Đại

Hầu hết cờ quốc gia trên thế giới đều có kích thước "dài gấp rưỡi rộng" để dễ ghi hình 6 x 9 nhưng với Việt Nam, kích thước ấy còn có thêm một ý nghĩa nữa: "Dọc ngang phải tính, Cho ảnh sáu - chín. Sáu chín năm tư, Số dân tộc chính!" Tiện quá phải không ạ? Theo lời tác giả của Cờ Việt Nam (Nguyễn Hữu Tiến 1901 - 1941) "Hỡi những ai cùng máu đỏ da vàng, Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc. Nền cờ đỏ thắm máu đào vì nước, Sao vàng tươi như da của giống nòi. Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh nước ta ơi, Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh!" "Máu đỏ da vàng" là màu Cờ Việt Nam. 5 cánh sao tượng trưng cho 5 "trụ cột" của cả nước: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh. Lấy giao điểm hai đường chéo của lá cờ làm tâm vẽ vòng tròn có bán kính bằng 1 / 5 chiều dài lá cờ, ta được vòng tròn đi qua 5 đỉnh của ngôi sao trên... Nguyễn Hữu Tiến hy sinh vào tháng Tám năm 1941 (bị Pháp xử bắn), chưa kịp nhìn thấy cờ đỏ sao vàng tung bay lần đầu tiên vào ngày 23 tháng 11 năm 1941. Quốc dân đại hội Tân Trào tại Tuyên Quang ngày 16 / 8 / 1945 đã chính thức chọn cờ đỏ sao vàng là Cờ Việt Nam.

ĐỘC TIỂU THANH KÝ  <br>Thơ: Nguyễn Du Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

ĐỘC TIỂU THANH KÝ
Thơ: Nguyễn Du Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Trên đây là một bài thơ "Đường luật thất niêm" của Nguyễn Du từng bị cho là "ngụy tác" bởi "Nguyễn Du đã từng đánh hỏng bao nhiêu sĩ tử vì lỗi làm thơ thất niêm thất luật không lẽ gì chính mình lại vi phạm lỗi ấy..." (Nguyễn Cẩm Xuyên, báo KTNN số 896). Vâng, đó là bài thơ Đường thất ngôn bát cú (TNBC) "luật bằng" vì chữ thứ hai trong câu đầu (Hồ) dùng thanh bằng nên chữ thứ hai câu chót cũng phải là bằng chứ không thể là trắc (hạ) được. Nhưng Bác Bảo Vệ lại cho đây là "lỗi cố tình" của Nguyễn Du... Sáu câu trên của bài thơ này hoàn toàn giữ đúng niêm luật của một bài thơ Đường TNBC. Cặp câu Đề giới thiệu cảnh vật tang thương biến đổi tột cùng ("tẫn" là "tột cùng") sau hai thế kỷ từ Tiểu Thanh đến Nguyễn Du, vườn hoa xưa nay chỉ còn là bãi hoang tàn: Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Ngoài song trông vào khách viếng chỉ được đọc một mảnh tình thơ sót lại (bị người vợ cả của chồng nàng ghen ghét nên đốt hết) của nàng Tiểu Thanh (sinh năm 1594 và mất năm 1612 khi mới vừa 18 tuổi) được người đời sau lưu giữ để thương tiếc một bậc tài hoa bạc mệnh. Cặp câu Thực tả về miếu thờ trang nghêm có cả di ảnh "chi phấn hữu thần" và mảnh thơ sầu thảm ấy (lụy phần dư): Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư. Cặp câu Luận nói về tâm trạng Nguyễn Du đang tự mang (ngã tự cư) "hận sự" giống như nàng: Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. Căp câu Kết "phá cách" (thất niêm) bởi đột nhiên Nguyễn Du thảng thốt nói về mình và chỉ có... xót thương mình: Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Có nghĩa là: Chẳng biết ba trăm năm nữa thiên hạ có ai khóc Tố Như (tức Nguyễn Du) không? Quý vị nghĩ sao nếu cặp câu kết này được Nguyễn Du viết... đúng niêm luật bài thơ Đường? Nguyễn Du cho điều đó không chỉ "vô duyên" mà còn làm hỏng bố cục của bài thơ nên đã quyết định "phá cách" riêng hai câu kết. Và quả thật chính hai câu kết này đã trở thành bất hủ như Truyện Kiều của Nguyễn Du. Tóm lại Độc Tiểu Thanh Ký là của Nguyễn Du viết chứ không ai khác và cũng không có chuyện "tam sao thất bổn" ở đây...

QUỐC KÊU CẢM HỨNG  <br>Thơ: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

QUỐC KÊU CẢM HỨNG
Thơ: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV)

QUỐC KÊU CẢM HỨNG Thơ: Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) Lời bàn: Nguyễn Đình Đại (BBV) Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ, Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ. Năm canh máu chảy đêm hè vắng, Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ. Có phải tiếc xuân mà đứng gọi, Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ? Ban đêm ròng rã kêu ai đó? Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ. Hai câu đề "giới thiệu" tiếng cuốc kêu nghe "khắc khoải" bởi đó là hồn của vua Thục (Đỗ Vũ hay Đỗ Quyên thời Chiến Quốc) hận mất nước khi chết hóa thành chim "cuốc" (sự tích chim Đỗ Quyên): Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ, Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ. Hai câu thực diễn tả rất... thực nỗi đau khôn cùng của một vong quốc nhân: Năm canh máu chảy đêm hè vắng, Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ. Hai câu luận được đặt ra dưới dạng câu hỏi cho thấy tác giả cũng thường trăn trở về nỗi nước nhà bấy giờ (bị Pháp đô hộ): Có phải tiếc xuân mà đứng gọi, Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ? Tiếng cuốc kêu giục tác giả suy nghĩ phải làm gì cho Tổ quốc (Quốc kêu cảm hứng) như lời hai câu kết: Ban đêm ròng rã kêu ai đó? Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ. Nhân đây Bác Bảo Vệ xin được chú thích về "đêm năm canh, ngày sáu khắc" và hai chữ "canh gà" trong "canh gà Thọ Xương" như sau: Mỗi khắc và mỗi canh đều dài bằng hai tiếng đồng hồ ngày nay. "Năm canh" là khoảng thời gian ban đêm (từ giờ Tuất đến giờ Dần). "Sáu khắc" là khoảng thời gian ban ngày (từ giờ Mão đến giờ Thân). Riêng giờ Dậu (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối) là giờ giao giữa ngày và đêm nên không được tính là canh hay khắc. "Canh gà" trong "canh gà Thọ Xương" vì vậy không phải là "canh dậu", chỉ là "tiếng gà gáy báo sang canh" lúc 3 giờ sáng (bắt đầu canh Năm hay giờ Dần).

SỐ PHẬN MÃ VIỆN <br>Lời bàn: Nguyễn Đình Đại

SỐ PHẬN MÃ VIỆN
Lời bàn: Nguyễn Đình Đại

Có những kẻ địch mình không nên đánh (Quân hữu sở bất kích). Danh tướng Mã Viện vào năm 49 sau Công nguyên vì không chịu nghe câu trên nên mới mất mạng một cách lãng nhách. Âu cũng là nhân quả! Nguyên vùng Võ Lăng có năm dòng suối nên dân tộc thiểu số ở đây được gọi là dân Ngũ Khê. Tháng Bảy năm 48, rợ Ngũ Khê xâm phạm nước Đông Hán của Quang Võ Đế. Lưu Thượng đem quân đi dẹp bị quân Ngũ Khê dựa vào địa thế hiểm trở tiêu diệt toàn bộ. Mã Viện tuổi đã cao lại xin vua cho đi đánh giặc này. Vua bảo "Khanh tuổi già sức yếu e không chịu được phong thủy nơi ấy" Viện liền nói "Thần còn mặc áo giáp, cưỡi ngựa được!" rồi nhảy lên ngựa phóng đi cho vua xem, quả nhiên vũ dũng không kém gì thời trai trẻ. Vua khen xong cho đem bốn vạn binh mã viễn chinh lên miền Võ Lăng. Tới Hạ Tuyển, phía trước có hai ngả đường dẫn đến Ngũ Khê. Một ngả chạy qua huyện Sung tương đối bằng phẳng nhưng là đường vòng nên phải đi khá xa, địch dễ phát hiện. Ngả kia tiến thẳng vào vùng Ngũ Khê nhưng phải ngược một dòng sông và qua một ngọn núi. Là một danh tướng, Mã Viện chọn ngả thứ hai bất chấp hiểm nguy để đánh bất ngờ vào sào huyệt địch. Nhưng càng ngược lên cao, dòng sông càng chảy xiết khiến cuộc hành quân vô cùng vất vả. Đến chân núi, Mã Viện mới hay quân Ngũ Khê đã cố thủ vững chắc trên cao rồi. Đã vậy chúng lại bí mật chặn luôn đường thủy không cho quân Hán rút về, đẩy Mã Viện vào thế tiến thoái lưỡng nan. Quân Hán đành phải sống lẩn quẩn trong rừng. Thời tiết nóng nực khiến không chỉ binh sĩ, chính Mã Viện cũng bị cảm nặng. Một lần quân Ngũ Khê ở trên núi hò hét ra vẻ sắp tấn công, Mã Viện lê lết ra ngoài xem rồi uất ức mà chết. Sinh thời ông từng nói: "Nam tử hán phải được chết trên sa trường, da ngựa bọc thây chứ không được chết trên giường..." Sáu năm sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng, "nam tử hán" Mã Viện đã được "hả lòng". Tượng Mã Viện được lập tại núi Phục Ba, Quế Lâm thuộc tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc.